11215874_782354838543263_7811608828342491522_n

TỤC ĐỐT GIẤY TIỀN – VÀNG MÃ?

Thế kỹ thứ 21 rồi, mà còn nói về giấy tiền vàng bạc, thì ắt có nhiều bạn thanh niên lấy làm lạ, không hiểu nó ra làm sao, và sự công dụng của nó như thế nào, chớ người lớn tuổi, ở vào thời kỳ 1930 trở về trước đều hiểu rành rẽ và nhiều người đã có dùng nó.
Tục đốt giấy tiền, vàng bạc (vàng mã) nay sắp cáo chung. Tôi xin ghi sơ lược lại đây, để các bạn trẻ hiểu một tục xưa:
Trước thời kỳ Pháp thuộc, ở nước Việt Nam và Trung Hoa có đúc tiền kẻm, vàng thoi, bạc nén để buôn bán, đổi chác. Thông dụng là đồng kẻm hay là tiền ta (sapèques en zinc). Sáu chục (60) đồng kẻm là một tiền ; 10 tiền là một quan (ligature).
Giàu có thì tích trữ bạc nén, vàng thoi, tính theo lượng (37gr 5).
Đến thời kỳ Pháp thuộc, có đúc thêm đồng nửa xu, đồng 1 xu, 1 cắt bạc, 2 cắt bạc, và một đồng bạc. Mỗi một xu giá bằng 5 đồng kẻm.
Đồng kẻm hay đồng tiền ta tròn và nhỏ hơn đồng xu, bề dày 1 ly và đường kính lối 25 ly … ở giữa là lỗ vuông chớ không phải lỗ tròn như đồng xu, bề mặt có chữ Hán ghi tên hiệu của vị Vua đương thời cho phép đúc tiền đó, như Gia Long thông bửu, Minh Mạng thông bửu, Tự Đức thông bửu, v.v. . .
Đến sau đồng kẻm hay tiền ta không xài nữa, vì nó dễ bể và nặng nề, mang đi rất bất tiện.

GIẤY TIỀN: Là những tờ giấy súc mỏng, khổ 2 tấc và 3 tấc, in hình đồng kẻm đầy khắp hết một mặt giấy, mặt sau để trống.
GIẤY VÀNG BẠC: Có hai thứ:
– Thứ nhỏ (vàng bạc tiểu): Khổ giấy là một tấc và một tấc rưỡi, một đầu in bằng chất kim loại màu vàng lá và đầu kia in chất kim loại màu bạc, cũng chỉ in một mặt giấy.
– Thứ lớn (vàng bạc đại): Khổ giấy bằng tờ giấy tiên, chỉ in toàn một màu vàng lá, hoặc in toàn một màu bạc.
Những đám cúng kiến, đám tang, làm tuần, đám giỗ, ngày Tết … người ta đều có đốt giấy TIỀN, giấy VÀNG BẠC khi cuối đám cúng, càng nhiều càng tốt. Nếu cúng tế nhiều ngày thì mỗi ngày đều có đốt giấy tiền, vàng bạc.
Các Chùa-Am thuở đó đều có đốt giấy tiền, vàng bạc, vì người ta tin rằng:
“Người chết, người khuất mặt, cũng xài tiền bạc như ta. Nếu không đốt thì thân nhân sẽ bị túng thiếu. Khi đốt, hễ vái van tên họ người nào thì người đó lãnh, kẻ khác không lãnh được. Lúc khiên quan tài đi chôn, người ta cũng rải giấy tiền vàng bạc theo dọc đường, với ý tưởng bố thí tiền bạc cho các vong linh mồ xiêu, mả lạc, không có ai cúng kiến, bị đói khát, thiếu thốn, để họ lo chạy lượm tiền mà không đeo bám nặng quan tài, không phá phách vong linh người mới chết, vì người ta nói: ma cũ ăn hiếp ma mới”.

Thời kỳ đó, người ta cũng đốt một loại giấy màu mỏng, láng bóng, có in đủ thứ bông hoa như hàng, lụa, gọi là giấy quần áo, để người chết cắt may y phục tùy ý.
Do đó, có những thợ mã là người chuyên môn làm những ngôi nhà ngói bằng giấy (gọi là nhà minh-khí), giống hệt nhà ngói thật, trong có đủ phòng khách, phòng ngủ, giường, tủ, bàn ghế, đủ vật dụng thật đẹp … Ngoài ra còn kèm theo kho vàng, kho bạc, để gởi xuống cho người chết.
Lúc sau này, người ta còn làm xe hơi bằng giấy để cho người chết dùng nữa.
Nhà minh-khí và kho vàng bạc chỉ làm và đốt trong mấy kỳ làm tuần 49 ngày, 100 ngày, giáp năm hay mãn tang … Còn ngày giỗ, ngày Tết thì đốt giấy tiền, vàng bạc và giấy quần áo mà thôi.

Tục lệ đốt vàng mã, nhà minh khí, lầu, kho nầy từ Trung Hoa truyền sang, không biết đã có từ hồi nào, vì không có sách nào ghi chép. Người ta chỉ thấy trong truyện Tây Du của Tàu ghi chuyện đời Đường, vua dâm ô Lý Thế Dân bị bệnh, hồn đi xuống âm phủ (cõi Trung Giới), gặp vua Diêm-Vương, gặp Phán quan Thế Dân lo lót, nhờ gian lận giúp cho ông được sống lại, trở về Dương gian.
Nhưng đi giữa đường gặp hồn anh là Ngươn Kiết và em là Kiến Thành đòi thường mạng, có cả thằng con trai đòi con vợ bị ông ta cướp … thêm hồn các quân sĩ chết oan trong các trận giặc đã qua, bị đói rét, tựu lại bao vây, níu kéo kêu oan.
Hồn vua Đường Lý Thế Dân không biết làm sao đi được. Phán quan biểu vua vay tiền của một lão tiều (vẫn còn sống), tuy không giàu, nhưng thường ngày hay mua giấy tiền vàng bạc đốt nên bây giờ dự trữ được mấy kho vàng bạc ở cõi Âm-Ty. Vua hãy mượn đỡ để phân phát cho các oan hồn, rồi chừng về dương gian sẽ bồi hoàn lại cho ông lão Tiều phu đó. Nhờ vậy nên Lý Thế Dân mới đi thoát khỏi vòng vây của oan hồn, yểu tử.
Ngoài mẫu chuyện nầy thì các chuyện khác toàn là khẩu truyền, nhưng người ta quá tin vào việc đốt vàng mã, nên thời kỳ đó có người tính thử và thấy mỗi năm ở Việt Nam đã đốt ra tro cả mấy triệu bạc (tiền lúc đó) một cách vô ích.
Ngày nay, thỉnh thoảng cũng còn thấy người đốt vàng mã, nhưng có thể nói là đã bớt đến 80% rồi, vì chúng sanh đã biết đó là việc làm tốn tiền vô ích.
11215874_782354838543263_7811608828342491522_n
Thật sự! Khi chết rồi, hồn con người lìa bỏ xác thịt và Phách …
Hồn ở trong thể Vía, sanh hoạt tại cõi Trung-giới, cũng giống như khi còn ở Trần gian, sinh hoạt trong xác thịt (với người tin có cỏi bên kia).
Cõi Trung-giới sáng rỡ luôn luôn như ban ngày, không có ban đêm như ta lầm tưởng, nên người chết ở trong thể Vía không ngủ bao giờ, không đau ốm bệnh tật, không bị nắng mưa, nóng rét, cũng không đói khát nên không cần ăn uống, nhà cửa, y phục, thuốc men.
Muốn đi đến nơi nào, dầu ở xa vạn dặm, hồn cũng chỉ trong nháy mắt là đến đó rồi, không cần tàu bè, xe ngựa hay máy bay. Linh hồn nào đã được học hỏi lúc sanh tiền, có ý thức về cõi Trung-giới rồi, khi bỏ xác thịt sẽ thấy sung sướng, thong thả, tự do vô cùng, không còn bị hạn chế như hồi ở Trần gian nữa.
Nhưng hầu hết người chết chưa hiểu và chưa tin như vậy, nên khi sang qua cõi Trung-giới, cũng cặm cụi lo làm lụng, để kiếm tiền như ở cõi Trần, lo xây nhà cửa để ở, v.v. . .
Còn người sống thì hiểu lầm, sợ người chết thiếu thốn, đói khát, nên lo cúng kiến và đốt vàng mã để cho vong linh được ấm no … Nhưng sự thật thì trái ngược lại.
Việc đốt giấy tiền, vàng bạc, đồ mả tuy tốn tiền vô ích, nhưng không có nguy hại bằng “thí giàn”.

Comments

comments

Share