1958456_849705568474856_6646430125491756163_n

Từ giàn khoan Hải Dương-981 đến dàn khoan Hải Dương-934(2016)

I- GIÀN KHOAN HẢI DƯƠNG-943 (2016)
Trong cuộc họp báo chiều 31-3-2016, phó phát ngôn Bộ Ngoại Giao VN Phạm Thu Hằng đả trả lời câu hỏi của của PV báo chí: “Giàn khoan Hải Dương-943 của TQ hiện đang hoạt động ở vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, khu vực mà VN & TQ vẫn đang đàm phán để phân định. Chúng tôi không muốn có thêm hành động làm phức tạp thêm tình hình, không có lợi cho việc đàm phán phân định tại vùng biển này. VN cũng bảo lưu các quyền và lợi ích pháp lý của mình đối với khu vực phù hợp với luật pháp Quốc tế, trong đó có Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc (UNCLOS) và thực tiển Quốc tế liên quan”.
Theo cục Hải sự TQ (MSA) hôm 28-3-2016 thông báo giàn khoan Hải Dương-943 của nước này khoan thăm dò ở biển đông từ 25-3 đến 31-7. Giàn khoan này sẽ hoạt động tại giếng LD 11-1-1, tọa độ 17 độ 47 phút 28,8 giây độ vĩ bắc, 108 độ 46 phút 00 giây độ kinh đông.
Vị trí này cách TP Tam Á đảo Hải Nam khoảng 50 hải lý về phía Tây nam.
Giàn khoan Hải Dương-943 thuộc loại tự nâng, có thể hoạt động ở vùng biển có độ sâu tối đa 122 mét, khoan sâu đến 10.668 mét. Giàn khoan này sẽ có 3 tàu hổ trợ là: Hải Dương-564, Hải Dương-617 & Hải Dương-618.

II- GIÀN KHOAN HẢI DƯƠNG-981 (2014)
Chắc các bạn còn nhớ, ngày 5-5-2014, theo báo chí chính thống TQ thì Cục Hải sự TQ thông báo, giàn khoan HD-981 tiến hành khoan và tác nghiệp tại vị trí có tọa độ 15o29’58” vĩ Bắc-111o12’06” kinh Đông từ ngày 2-5 đến 15-8-2014, (vị trí này nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của VN, cách bờ biển VN khoảng 120 hải lý).
Lúc đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao VN đã lên tiếng phê phán TQ đã bất chấp luật pháp Quốc tế, xâm phạm chủ quyền VN, VN kiên quyết phản đối.
Tập đoàn dầu khí VN cũng lên tiếng phản đối mạnh mẽ hành động bất hợp pháp của Tổng công ty dầu khí hải dương TQ, kiên quyết yêu cầu phía TQ rút giàn khoan HD-981 ra khỏi vùng biển của VN.
Rồi mạng “Quan sát” TQ cũng thông báo, cảnh sát biển TQ và VN đang đối đầu ở khu vực cách đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN) 17 hải lý về phía nam. Bài báo đó cho rằng, VN đã điều nhiều tàu cảnh sát biển đến ngăn chặn giàn khoan 981 của TQ.
Trong khi đó, tờ “Đại công báo Hồng Kông” đã dẫn “tờ báo của Mỹ” không nêu đích danh cho rằng: “TQ ‘coi thường’ VN (chủ quyền, tuyên bố …) cho giàn khoan HD-981 cắm ở Biển Đông (một khu vực thuộc vùng biển chủ quyền của VN theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển). Bài báo còn đăng nhiều hình ảnh về ‘đường lưỡi bò’, các hình ảnh về đảo, đá ngầm trên Biển Đông, hình ảnh về việc nước khác đánh bắt hải sản … thể hiện TQ rất muốn chiếm đoạt Biển Đông, chẳng khác gì hổ đói đang thèm khát Biển Đông”.
Trong chuyến thăm châu Âu năm sau, Tập Cận Bình đã ví TQ như “con sư tử đã tỉnh”, tức là con sư tử đã sẵn sàng hành động. Mà mục đích của “con sư tử” này là “đường lưỡi bò” bao quát hầu hết Biển Đông..
Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu cũng viết bài cảnh báo:
– TQ muốn định nghĩa lại luật biển quốc tế, muốn dựa vào “dấu chân của Trịnh Hòa” để đòi chủ quyền, trong khi Trịnh Hòa được cho là đã từng đến Ấn Độ Dương và ven bờ biển châu Phi.
Rồi, Bộ trưởng Quốc phòng TQ, Thường Vạn Toàn cũng tuyên bố:
– Chủ quyền là “lợi ích cốt lõi”, TQ có chủ quyền đối với các đảo và vùng biển trên Biển Đông.
Cho nên, chắc chắn rằng, các nước ven Biển Đông không thể mơ hồ và ngày càng thấy rõ tham vọng thực sự (bành trướng lãnh thổ) của TQ và điều này cần phải tìm mọi cách để ngăn chặn, để “cắt lưỡi bò”.

III- BÁO TQ VIỆN DẨN 3 LÝ DO ĐỂ DI CHUYỂN GIÀN KHOAN 981
Theo công bố ban đầu, giàn khoan sẽ hoạt động đến giữa tháng 8 nhưng mới đến giữa tháng 7 thì các công ty dầu khí TQ đã gõ chiêng thu quân. TQ di chuyển giàn khoan Hải Dương-981 ra khỏi khu vực mà họ đả hạ đặt trên vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của VN đã khiến dư luận nước này thắc mắc. Trang Tài chính TQ đã đưa ra 3 lý do khiến họ buộc phải di chuyển giàn khoan:
1- Lý do thứ nhất là vấn đề chuyên môn: Khi giàn khoan đả hoàn thành xong công việc khảo sát và lấy số liệu trong suốt 2 tháng hoạt động vừa qua. Tờ này cũng rêu rao những thắng lợi to lớn trong “chiến dịch thăm dò”.
2- Lý do thứ hai mà Trang Tài chính TQ nêu ra là “sự thay đổi thái độ của Mỹ”: Cần nhớ rằng, Ngày 10-7, Thượng viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết số 412, yêu cầu “TQ phải rút giàn khoan, tàu hộ tống ra khỏi khu vực đang hoạt động ở Biển Đông và khôi phục lại nguyên trạng biển Đông”. Ngay sau đó một ngày, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, Michael Fuchs chuyên phụ trách khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã kêu gọi các bên tranh chấp ở Biển Đông tự nguyện ngưng ngay hành động khiêu khích làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông.
Rồi có thêm tin nóng: Boeing 777 của Malaysia chở 295 hành khách vừa rơi ở Ukraine … Ấy vậy mà Trang Tài chính TQ lại cho rằng: “Mỹ đã không đổ lỗi cho TQ như các quốc gia khác và nghị quyết số 412 cũng không khiển trách mỗi mình TQ tạo sóng gió tại Biển Đông”. Do Mỹ “thay đổi thái độ” nên TQ phải có hành động “thiện chí” là di chuyển giàn khoan.
3- Lý do thứ ba mà Trang Tài chính TQ nêu ra là: “việc di chuyển giàn khoan sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ chiến tranh trên Biển Đông”. Tờ này thừa nhận chiến tranh tại Biển Đông là điều không ai mong muốn và khi nó xảy ra thì tất cả các bên tham chiến sẽ cùng thua, do chịu những tổn thất kinh tế khác nhau.
Mặc dù ngang ngược nói TQ khai thác trên “khu vực lịch sử” (thực tế là chà đạp luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền nước khác), nhưng Trang Tài chính TQ cũng phải thừa nhận rằng “trong tương lai dài thì cần phải hợp tác trên cơ sở đảm bảo hòa bình”.

IV- NHỜ CÓ GIÀN KHOAN TQ, KHIẾN NGƯỜI VN MỚI GỌI ĐÚNG TÊN MỘT CUỘC CHIẾN
Đó là tên gọi cho hậu Chiến tranh Biên giới Việt-Trung 17-2-1979.
Có rất nhiều tháng 7 đã đến và đi trên đất nước ta. Nhưng tháng 7-2014 có lẽ là đặc biệt hơn tất cả, ít nhất là trong 30 năm trôi qua (1984-2014).
Đặc biệt là vì lần đầu tiên sau 30 lần tháng 7 rồi các trang báo ra hàng ngày và kênh truyền hình Quốc gia mới công khai nhắc tới cuộc chiến khốc liệt chống quân TQ xâm lược ở vùng núi biên giới huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (từ năm 1984 đến năm 1988) với đúng bản chất của nó.

Từ trước đến giờ rất nhiều người tưởng rằng cuộc chiến chống trả quân TQ xâm lược ở biên giới phía bắc nước ta chỉ diễn ra từ ngày 17-2-1979 đến 18-3-1979, như sự mô tả vắn tắt trong sách giáo khoa lịch sử lớp 12.
Sự thật hóa ra hào hùng mà cũng bi thương hơn rất nhiều.
Hồ sơ quân sự được mở ra trên các trang thông tin chính thức tại VN tháng 7-2014 cho thấy, suốt từ đầu năm 1984 – 1988, TQ lần lượt huy động 17 sư đoàn bộ binh và 5 sư đoàn, lữ đoàn pháo binh tràn sang đánh chiếm và bắn phá các vùng đất biên giới phía bắc của VN, ác liệt nhất là những trận đánh ở huyện Vị Xuyên, dọc theo cả hai phía đông và tây sông Lô, ở phía bắc suối Thanh Thủy. Số đạn pháo mà TQ đã bắn vào lãnh thổ phía bắc VN trong hơn 5 năm liền là hơn 1,8 triệu quả pháo cối (ngày cao điểm nhất là hơn 60.000 quả)!
Trong điều kiện địa hình Hà Giang hiểm trở, tiếp tế hậu cần vô cùng khó khăn và tương quan lực lượng chênh lệch, có gần 1.200 cán bộ, chiến sĩ của sư đoàn 356 đã hy sinh để góp phần đánh đuổi quân TQ xâm lược.
Nói đến sự ác liệt và những mất mát đau thương trong suốt 5 năm ấy, người VN, kể cả những người trẻ đều có thể chia sẻ với mức độ khác nhau.
Nhưng điều mà nhiều người không thể hiểu được là vì sao sự thật về những năm tháng hào hùng và bi thương ấy của đất nước lại có thể được “cất kỹ” trong một thời gian dài đến thế?
Trong khi, đã thành lệ! Cứ dịp 27-7 hàng năm, những người lãnh đạo và những người lính năm xưa lại quy tụ về Quảng Trị để thắp nén nhang tri ân đến những liệt sĩ đã nằm lại với đất mẹ.
Rồi truyền thông cả nước lại nhắc đến trận chiến thành cổ Quảng Trị năm 1972 một cách vô tình, như nhắc lại sự căm thù giữa 2 miền Nam Bắc ruột thịt & khoét sâu vào nỗi đau chia cắt dân tộc. Còn cuộc chiến Vị Xuyên thì lại đưa tin rất sơ sài hoặc “cân nhắc”?
Mãi cho đến tháng 7-2014, chúng ta mới thấy các phương tiện truyền thông trong nước đồng loạt đưa tin về việc tri ân và tôn vinh những người con quả cảm đã hy sinh vì bảo vệ từng tấc đất biên cương Tổ quốc trong trận chiến Vị Xuyên (Hà Giang) 30 năm về trước. Vì sao có sự thay đổi này?

Thực tế cho thấy, kể từ khi VN bình thường hóa quan hệ với TQ, chúng ta đã luôn cố gắng để giữ hòa khí với TQ. Đặt trong bối cảnh sau các vụ xung đột dẫn đến chiến tranh đẫm máu ở biên giới, quan hệ ngoại giao bị cắt đứt trong nhiều năm, hai bên cần trở lại “giao hảo” bình thường để xây dựng và phát triển. Đó là sách lược phù hợp trước một TQ luôn lấn tới.
Nhưng!.. đến tháng 5-2014 TQ bất ngờ kéo giàn khoan HD-981 vào vùng biển VN đã làm cho người dân VN sáng mắt ra. Đến tháng 7-2014 dù TQ đã kéo giàn khoan về nước, nhưng hành động của chúng đã tạo ra một vết nứt sâu đậm, làm mất lòng tin chiến lược giữa hai nước.

Rõ ràng, phía TQ đã không cảm nhận được thông điệp về “lòng tin chiến lược” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Đối thoại Shangri-La năm 2013. Do đó, Thủ tướng Việt Nam đã có tuyên bố thể hiện thái độ dứt khoát:
“Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.
Tuyên bố cho thấy thái độ của người VN trước những việc làm của TQ. “Tình hữu nghị lâu năm”, “16 chữ vàng cùng 4 tốt …”, có thể sụp đổ chóng vánh khi lòng tin không còn.

Và giàn khoan phi pháp của TQ đã khiến VN thức tỉnh sau một giấc ngũ đông. Truyền thông VN không còn được lệnh che lấp nữa, mà đả được phép thẳng thắn nói ra những tội ác mà quân TQ xâm lược đã gây ra cho nhân dân VN với đúng bản chất của nó. Nói ra không phải là khơi hận thù, mà là để con cháu ta sau này nhớ rằng: “quan hệ Việt-Trung, dù có tốt đẹp đến mấy thì cũng đã từng xảy ra chiến tranh, xung đột”.
Nói ra để không bao giờ mất cảnh giác, không bao giờ ngủ quên.
Nói về sự thay đổi này, Giáo sư Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Sử học VN nhận xét: “Đã có những thay đổi to lớn trong quan hệ giữa VN với TQ hiện nay, đặc biệt sau vụ TQ đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào vùng biển mà VN tuyên bố chủ quyền như vùng đặc quyền kinh tế, cũng như lãnh hải của mình trên Biển Đông”.
Do quan hệ đã thay đổi! Trước việc TQ đã lộ rõ “bản chất và dã tâm độc chiếm, thôn tính Biển Đông” mà truyền thông VN mới đưa tin về các sự kiện chiến tranh, xung đột trong mấy chục năm qua giữa TQ với VN, mà ông gọi là các cuộc chiến chống “quân xâm lược Trung Quốc” đã khác trước ở chỗ “khách quan” và đúng với “sự thực lịch sử khách quan” hơn.

Thật nguy hiểm khi vì thiếu thông tin (hoặc thông tin bị che giấu) mà người dân VN (nhất là con cháu sau này), nhận thức về bạn-thù, thiện-ác, tốt-xấu bị lẫn lộn, thậm chí đảo lộn.
Kẻ xâm lược thì phải được gọi đúng tên và phải bị đánh đuổi như quân và dân ta đã làm với quân TQ 30 năm trước ở biên giới phía bắc.
Bành trướng, bá quyền bất chấp quyền và lợi ích của người khác là phi nghĩa, là vô nhân … như nhân dân ta và bè bạn trên Thế giới đã khẳng định đối với hành động của TQ trên biển Đông nắm 2014 và hôm nay.
Không ai muốn có kẻ thù. Nhưng cũng không ai muốn bị sự giả trá vì trò đánh lận con đen: “biến thù thành bạn”.
Vấn đề quan trọng nhất là chính sách đối nội cũng như đối ngoại của mỗi Quốc gia, phải làm như thế nào để tạo dựng được lòng tin trước hết đối với các công dân và sau đó với các Nước láng giềng và cộng đồng Quốc tế. Không thể có chuyện quân xâm lược hiện diện ngoài biển khơi, mà ở trong nước nhân dân lại đi hạch tội những người lãnh đạo đất nước.

Trong các chính sách ấy, rất cần có việc “nói sự thật về lịch sử đất nước với người trẻ”. Nói sự thật lịch sử của đất nước là để người trẻ được trang bị đầy đủ nhận thức về cách ứng xử với các mối quan hệ lớn, vượt ra ngoài khuôn khổ gia đình, bè bạn. Đó là với những Quốc Gia láng giềng.
Cảm nhận được niềm xúc động của nhiều bạn trẻ khi đón đọc từng dòng thông tin về sự hy sinh to lớn của các chiến sĩ trên mặt trận biên giới phía bắc cách đây 30 năm mà mãi đến bây giờ họ mới được cho biết …
Càng thêm tin rằng nói sự thật là cách để lớp trẻ ghi nhớ:
“Không ai, và cũng không điều gì có thể được lãng quên trong hành trình Việt Nam đấu tranh dựng xây và gìn giữ giang sơn bờ cõi”.

V- SAU VỤ GIÀN KHOAN HẢI DƯƠNG-981 TQ TRỞ NÊN TỒI TỆ TRONG CON MÁT CỦA NGƯỜI DÂN TRONG KHU VỰC
Theo Wall Street Journal. TQ không thu được một giọt dầu nào sau khi đưa giàn khoan vào khai thác trên vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của VN.
Cái mà họ “nhận” được từ hành động của năm 2014 trên biển Đông là cái nhìn thiếu thiện cảm của người dân trong khu vực cũng như trên Thế giới.

1- TQ MẤT ĐIỂM
Theo một cuộc khảo sát của Trung tâm nghiên cứu Pew (một cơ quan nghiên cứu chiến lược uy tín của Mỹ) hồi tháng 6-2014, chính quyền TQ bị nhìn nhận một cách tiêu cực ở Trung Đông, cũng như ở các nước châu Âu như Tây Ban Nha, Ba Lan, Ý Đức, Pháp và Hy Lạp. Tại Mỹ, 58% người được hỏi nói họ thiếu tin tưởng với chính quyền Tập Cận Bình
Nhưng nơi TQ mất điểm nhất là ở các nước láng giềng: 87% số người được hỏi ở Nhật nói rằng họ không tin tưởng hành động của TQ trong các vấn đề quốc tế. Đa phần dân ở nhiều nước châu Á (nơi Pew tiến hành khảo sát với người dân 44 quốc gia) đang lo lắng về tham vọng bành trướng lãnh thổ của TQ và e ngại rằng Bắc Kinh có thể đẩy khu vực vào chiến tranh.
Dân các nước đang có tranh chấp lãnh thổ với TQ là những người bày tỏ lo ngại lớn nhất:
– Ở Philippines, 93% số người được hỏi nói rằng họ lo lắng TQ gây ra xung đột,
– Ở Nhật Bản là 85%.
– Ở Hàn Quốc, vốn có quan hệ ấm dần với TQ gần đây, cũng có 83% số người được hỏi chia sẻ mối lo ngại như vậy.
– Riêng Việt Nam không ai thèm hỏi hết ???

2- MỸ GHI ĐIỂM TẠI CHÂU Á
Do quan niệm cho rằng TQ là kẻ bắt nạt các nước láng giềng nên người dân các nước châu Á đã có tâm lý muốn gần gũi nước Mỹ hơn.
Khảo sát cho thấy đa phần người dân của 8 trong số 11 quốc gia châu Á muốn Mỹ trở thành đồng minh số 1 của họ. Chỉ có ba quốc gia châu Á coi Mỹ như mối đe dọa lớn là TQ (tất nhiên), Malaysia và Pakistan. Trong số đó, Pakistan là đồng minh thân cận của TQ và đang có hiềm khích với Mỹ.
Bảng số liệu mà Pew đưa ra cho thấy:
– Tại Nhật, tâm lý thân Mỹ, lo ngại TQ dâng cao nhất. Chỉ có 7% người Nhật có cái nhìn tích cực về TQ trong khi số người dành cho Mỹ cái nhìn tích cực là 66%.
– Tại Philippines, số người có đánh giá tích cực về vai trò của Mỹ lên đến 92% và chỉ có 38% có cái nhìn tích cực về TQ.
– Tại Ấn Độ, số người nhìn tích cực về Mỹ là 55% trong khi chỉ có 31% người được hỏi nhìn nhận vai trò tích cực của TQ.
– Tại Hàn Quốc, số người nhìn nhận vai trò tích cực của Mỹ cũng bỏ xa số người tin tưởng TQ (82% so với 56%).
– Thế còn tại Việt nam thì sao vậy ACE trong nhà ???

VI- 3 BƯỚC ĐUỔI GIÀN KHOAN HD-981 KHỎI VÙNG BIỂN VN
Để rồi xem VN ta ứng biến với vụ giàn khoan HD-943 (2016) này ra sao? Có còn đem máy bơm ra tắm cho nhau như vụ giàn khoan HD-981 (2014) trước không? Tôi xin chép lại nguyên văn bài của Thạc sĩ Nguyễn Hùng Cường (Viện Nghiên cứu Khoa học Biển và Hải đảo), để kết thúc bài này:

TQ giống như một lực sĩ phơi trần cơ bắp trên chính trường quốc tế, nghênh ngang, đe dọa. Họ sẽ không dừng lại chừng nào chưa nhận thấy rủi ro, vậy ta hảy CHỨNG MINH CHO TQ THẤY CÁI GIÁ PHẢI TRẢ SẺ LÀ GÌ NẾU VƯỢT QUA “ĐƯỜNG RANH ĐỎ”.

VN cần sớm có “tư duy chiến lược” và “bước đi chiến lược” để thay đổi tình thế theo hướng có lợi.
TQ đưa HD-981 vào khoan thăm dò trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN là bước leo thang xung đột nguy hiểm nhất trong nhiều năm trở lại đây. Đây là động thái nguy hiểm nhất kể từ sau năm 1988.
Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào chuỗi liên tục hành động ngang ngược của TQ, đặc biệt kể từ năm 2009, thì có thể thấy rằng đây là kết quả không bất ngờ. Ngược lại, TQ thực hiện những bước đi đã có chuẩn bị bài bản, tính toán kỹ. Những hành động ngày càng quyết liệt và trắng trợn này bộc lộ rõ tham vọng bá chủ, hiện thức hóa tham vọng đường lưỡi bò trên Biển Đông, cũng như chủ trương bành trướng lãnh thổ của TQ.
Với bối cảnh địa chính trị hiện nay, chưa bao giờ TQ có được thời điểm thuận lợi như vậy để thực hiện hành vi xâm phạm của mình. Biển Đông, với vị trí địa chiến lược của mình, đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nước lớn như Nga, Mỹ trong bối cảnh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương hiện là trung tâm kinh tế phát triển năng động nhất thế giới.
Năm 2010, Mỹ đã từng tuyên bố nước này có “lợi ích quốc gia” đối với quyền tự do hàng hải ở Biển Đông sau khi chính quyền Obama tuyên bố sẽ chuyển trục ngoại giao sang khu vực này.
Trong khi đó, Nga rất quan tâm đến việc quay trở lại Biển Đông nhằm thể hiện tầm ảnh hưởng và vai trò nước lớn của mình thông qua các hợp đồng cung cấp vũ khí, tàu ngầm và các hợp đồng khai thác dầu khí cho VN.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, khủng hoảng chính trị và xung đột tại Ucraina đã trở thành mối bận tâm chủ yếu của cả Nga, Mỹ và EU.
Vấn đề khủng hoảng tại Ucraina không chỉ liên quan đến nội bộ nước này mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ ngoại giao, chính trị giữa các nước trên khi mối quan hệ Nga – Mỹ trở nên tồi tệ nhất kể từ sau thời kỳ chiến tranh lạnh bởi các quan điểm khác biệt trong vấn đề Crimea và xung đột tại Ucraina.
Đây là thời điểm mà Mỹ, EU và Nga đang tập trung thể hiện tầm ảnh hưởng và bảo vệ các lợi ích của mình tại quốc gia Đông Âu này. Do đó, các vấn đề xung đột và tranh chấp tại biển Đông khó có được sự quan tâm đầy đủ như bình thường.

Gần hai tháng, trước khi TQ kéo giàn khoan vào vùng biển quyền chủ quyền của VN, ngày 15-3-2014, Hội đồng Bảo an LHQ, mặc dù với 13 phiếu thuân, đã thất bại trong việc thông qua một nghị quyết về vấn đề Crimea vì 1 phiếu phủ quyết của Nga và 1 phiếu trắng của TQ (là nước duy nhất trong Hội đồng Bảo an bỏ phiếu trắng, điều đó có nghĩa là TQ đã ngầm ủng hộ Nga).
Bên cạnh đó, những nước trong khối ASEAN như: Thái Lan, Indonesia, Brunei và đặc biệt là Campuchia sau những chuyến ngoại giao “coi thoi” của Thủ tướng và Bộ trưởng TQ trong các năm gần đây cùng những lời hứa hẹn hấp dẫn về mặt kinh tế … sẽ ít nhiều dao động.
Trong khi đó, chỉ 3 ngày trước thời điểm TQ leo thang, hạ đặt giàn khoan HD-981, Philippines đã ký “Hiệp ước Hợp tác nâng cao quốc phòng với Mỹ”. Có vẻ như Philippines đã có một sự đảm bảo của Mỹ trước TQ.
Đó có thể là lý do vì sao TQ đã ngay lập tức chuyển hướng thể hiện sự ngang ngược của mình sang vùng biển của VN.
Trong khi đó, về mặt ngoại giao và pháp lý, trước các hành động phi pháp và quyết liệt của TQ, VN chưa thực hiện hành động nào khác, ngoài các công hàm và tuyên bố ngoại giao để phản đối. Điều đó khiến TQ tự tin là VN sẽ khó có thể hành động gì mang tính “đột phá”.

Đối với tình hình nội địa của TQ, các vấn đề bạo lực tại Tân Cương đang là điểm nóng của nước này và giới cầm quyền Bắc Kinh có lẽ đang muốn hướng sự chú ý của cộng đồng quốc tế và ngay cả người dân TQ ra bên ngoài.
TQ với lợi thế về số lượng, với gần 80 tàu bảo vệ giàn khoan HD 981, đã và đang sử dụng các biện pháp vũ lực mang tính khiêu khích như đâm, va, dùng vòi rồng phun tấn công tàu của lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư VN khi thực hiện chức trách tại khu vực này.
VN đang kiềm chế, và quan điểm của VN là tránh đụng độ tới mức có thể. Phó tư lệnh Cảnh sát biển VN đã tuyên bố: “Mọi sự chịu đựng đều có giới hạn, nếu tàu TQ tiếp tục đâm húc, VN sẽ có hành động tự vệ đáp lại”.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là chúng ta sẽ tự vệ bằng biện pháp gì?
Tự vệ như thế nào và ở mức độ nào?
Điều đó càng khó hơn khi cuộc xung đột này có thể sẽ kéo dài ít nhất 3 tháng, 4-5-15-8 (theo tuyên bố của Cục Hải sự TQ về thời gian hoạt động của giàn khoan HD-981).

Đào tạo nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch.

Với sự đánh giá tình hình như vậy, hành vi phi pháp của TQ kéo giàn khoan vào khai thác tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN đã trở thành một tình thế hết sức nguy hiểm và đủ yếu tố cấu thành “hoàn cảnh có khả năng dẫn tới xung đột hoặc tranh chấp quốc tế”, theo Điều 34 của Hiến Chương Liên Hợp Quốc:
– Chưa thấy có lý do gì để TQ dừng lại khi mà họ có thể đạt được tham vọng bằng cách sử dụng sức mạnh.
– TQ cũng không có ý định đàm phán thật sự như họ nói mà đây chỉ là một bước đi nhằm ngụy tạo mong muốn thật sự của họ, đánh lạc hướng và kéo dài thời gian xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của VN.

Chúng ta có thể sử dụng một phép thử về ý định thật sự của TQ bằng cách đưa ra thời hạn đàm phán và nêu những kết quả có thể xảy ra nếu kết thúc thời hạn đó mà TQ không rút lui.
Dù VN có đưa bao nhiêu tàu ra thực địa ở khu vực giàn khoan HD-981 đi chăng nữa, nhưng chừng nào TQ chưa cảm thấy rủi ro hoặc thiệt hại cho mình thì họ sẽ không nhượng bộ trước VN.
TQ hiện nay giống như một lực sĩ trên chính trường thế giới, phơi trần cơ bắp, nghênh ngang, đe dọa, hống hách … Và TQ sẽ không dừng lại chừng nào họ “chưa nhận thấy những rủi ro” trong các hành động cường quyền của mình. Vì thế, trong tình hình căng thẳng và nóng bỏng hiện nay, nếu chỉ sử dụng biện pháp ngoại giao, VN sẽ khó thành công.
VN phải sử dụng tổng hợp tất cả các biện pháp, từ chính trị, ngoại giao và đặc biệt là về mặt pháp lý, vũ lực chỉ là biện pháp cuối cùng.
Để bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình trong vụ giàn khoan lần này, VN có thể xem xét thực hiện lần lượt 3 bước sau đây:

1- BƯỚC 1:
Chính phủ cần ngay lập tức đưa ra đề nghị đàm phán với TQ về vấn đề giàn khoan (hiện nay trong các công hàm ngoại giao của VN chỉ có nội dung phản đối mà chưa hề có nội dung đề nghị đàm phán về vấn đề giàn khoan). Chúng ta cần đưa nội dung đề nghị đàm phán và thời hạn đàm phán với TQ càng sớm càng tốt vì ba lý do:
– Chứng minh cho công luận quốc tế VN muốn giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình.
– Nếu TQ từ chối đàm phán hoặc chúng ta thất bại trong việc thuyết phục TQ rút giàn khoan của mình trong thời hạn mà VN đã đưa ra thì chúng ta sẽ có cơ sở thực hiện các bước đi tiếp theo.
– Đàm phán là điều kiện bắt buộc phải thực hiện theo Điều 283 Công ước Luật biển 1982, nếu VN muốn tiến hành khởi kiện tại bất kỳ cơ quan trọng tài hay tòa án nào theo Công ước Luật biển.
Đề thực hiện việc này, do tính chất phức tạp của tình hình, nhằm giải quyết toàn diện các vấn đề về ngoại giao, chính trị và đặc biệt là pháp lý. Chính phủ cần thành lập ngay “Ủy ban Giải quyết xung đột về vấn đề giàn khoan” bao gồm các thành viên có chuyên môn của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và các chuyên gia hàng đầu về pháp luật quốc tế tại VN, đứng đầu là Thủ tướng hoặc một Phó thủ tướng.
“Ngoài ra, Chính phủ VN cũng cần ngay lập tức đưa ra tuyên bố Quốc tế với nội dung MIỂN TRỪ TRÁCH NHIỆM CỦA QUỐC GIA TRONG TRƯỜNG HỢP XẢY RA VIỆC ĐÁNH PHÁ, HỦY HOẠI, TẤN CÔNG GIÀN KHOAN DO CÁC CÁ NHÂN, HOẶC TỔ CHỨC THỰC HIỆN NẰM NGOÀI SỰ KIỂM SOÁT CỦA CHÍNH PHỦ VN nhằm tránh trường hợp TQ lợi dụng vụ việc để tiếp tục leo thang tranh chấp”.
Thí dụ như trường hợp một tàu ngư dân bức xúc vì mất hết tài sản thay vì tự thiêu sẽ chở đầy mìn tông thẳng vào giàn khoan tự sát … hay chiếc tàu ngầm tự chế của người dân VN chở đầy bom bất ngờ từ dưới nước trồi lên phóng thẳng cảm tử vào giàn khoan …

2- BƯỚC 2:
Nếu TQ từ chối đàm phán hoặc không thể đàm phán được với TQ trong thời hạn do VN ấn định, VN có thể vận dụng Điều 35 Hiến chương LHQ, kiến nghị lên Hội đồng Bảo An và Đại hội đồng của LHQ để đề nghị hai cơ quan này đưa ra các nghị quyết khi đã xuất hiện một “tình thế có khả năng dẫn đến tranh chấp” đe dọa hòa bình và an ninh Quốc tế. Nội dung bản kiến nghị này sẽ do Ủy ban Giải quyết xung đột soạn thảo.

3- BƯỚC 3:
Nếu cả hai cơ quan này đều thất bại đưa ra một nghị quyết về vấn đề “giàn khoan”, hoặc có đưa ra nghị quyết nhưng TQ bất chấp công luận Quốc tế và không tuân thủ nghị quyết của các tổ chức này thì VN cần xem xét các vấn đề sau:
a)- Thứ nhất:
Cơ sở mà TQ viện dẫn cho việc thiết lập giàn khoan tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là vì họ cho rằng vị trí này nằm trong vùng nước của họ. Đây là lập luận thiếu cơ sở và vi phạm pháp luật quốc tế nhằm biến vùng “không tranh chấp” thành vùng “có tranh chấp” hay nói cách khác là “tranh chấp hóa” các vùng biển trên Biển Đông. Đây là vấn đề không mới nhưng để phản bác điều đó thành công hơn biện pháp truyền thống là chỉ đơn thuần phản đối, VN có thể lựa chọn một trong hai hoặc cả hai phương án sau:
Một: đề nghị Tòa án Luật biển quốc tế đưa ra ý kiến tư vấn về quy chế pháp lý các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng, để từ đó khẳng định vị trí mà giàn khoan đang khai thác không nằm trong “vùng nước quần đảo” hay vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo. Để thực hiện việc này, VN cần ký một điều ước Quốc tế với một quốc gia khác để trao cho Tòa án thẩm quyền. VN cần dùng các biện pháp ngoại giao để thuyết phục một trong các nước như Lào, Philippines hoặc Malaysia … ký kết một điều ước quốc tế với mục đích như vậy.
Hai: Kiện TQ ra Tòa trọng tài (Phụ lục VII Công ước Luật biển 1982) để ra phán quyết về vụ giàn khoan bao gồm 5 đề nghị:
– Tuyên bố việc TQ kéo giàn khoan cùng các tàu hộ tống vào khai thác trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đã vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của VN đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thềm lục địa theo Điều 56 và Điều 77 Công ước Luật biển.
– Tuyên bố việc TQ dùng các tàu của mình ngăn cản các tàu thuộc lực lượng chức năng của VN thực hiện quyền kiểm tra, khám xét, thu giữ giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế của mình là hành vi vi phạm quyền tài phán của Việt Nam theo Điều 56
– Tuyên bố việc TQ thiết lập vùng an toàn 1 hải lý và cấm các loại tàu bè đi vào vùng biển có bán kính 1 hải lý xung quanh giàn khoan là trái với Điều 60 Công ước Luật biển – theo đó vùng an toàn tối đa cho một thiết bị và công trình trên biển chỉ là 500 mét.
– Tuyên bố viêc TQ thiết lập vùng nước quần đảo hoặc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa không phù hợp với Điều 47,48, 49 và 121 Công ước Luật biển.
– Tuyên bố “đường lưỡi bò” của TQ không phù hợp với các quy định của Công ước.

b)- Thứ hai:
Để thực hiện thành công bước 2 và bước 3 chúng ta cần sự đồng thuận và quyết tâm mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị. VN cần hiểu rằng, nếu vẫn áp dụng lối mòn “phản đối ngoại giao” và chỉ có như vậy thì VN chắc chắn sẽ thua thiệt.
Trước sự vi phạm Luật Quốc tế trắng trợn, điều chúng ta cần và phải làm là CHỨNG MINH CHO TQ THẤY CÁI GIÁ PHẢI TRẢ SẺ LÀ GÌ NẾU VƯỢT QUA “ĐƯỜNG RANH ĐỎ”.
Nếu chúng ta chứng minh cho TQ thấy VN sẵn sàng vào cuộc và thực sự muốn áp dụng “mọi biện pháp có thể” như chúng ta đã tuyên bố để bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình thì chúng ta cần thực hiện và áp dụng tuyên bố đó một cách tuần tự, theo các bước như đã nói để thể hiện sự quyết tâm trong tuyên bố. Điều này sẽ khiến TQ phải nhìn nhận lại hành vi nếu như “không muốn bị trả giá”.
Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là các bước đi này phải thực hiện một cách nhanh chóng, càng sớm càng tốt để tránh xung đột leo thang, vì thời gian càng dài, kết quả của các bước đi chiến lược càng giảm.
Vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt là rất khó khăn nhưng chắc rằng dân tộc VN có đủ sức mạnh để giải quyết. Sức mạnh của chúng ta phải đến từ:
– Sự đường hoàng, chính nghĩa …
– Sự bất ngờ trong hành động …
– Sự can đảm nếu TQ vượt quá giới hạn.
Điều quan trọng là “không bao giờ được phép nhân nhượng trong vấn đề chủ quyền”.

(Tổng hợp từ nhiều nguồn)

Kho tài liệu hướng dẫn viên du lịch.

Lớp học nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch.

Comments

comments

Share