13450107_895208403924572_4810880257974070761_n

THƯƠNG CẢNG HẢI PHÒNG & TP HOA PHƯỢNG ĐỎ

(Ảnh bìa: Cảng Hải Phòng về đêm nhìn từ cầu Bính).

Hải Phòng – Thành phố Hoa phượng đỏ, vừa là đô thị cảng lớn nhất miền Bắc đồng thời cũng giữ vai trò của một trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghiệp đặc biệt quan trọng thuộc vùng duyên hải Bắc bộ. Với dân số trên hai triệu người, Hải Phòng hiện là Thành phố lớn thứ ba của Việt Nam sau Hà Nội và Thành phố Sài Gòn và là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương ở cấp Đô thị loại I cùng với Đà Nẵng và Cần Thơ.
Là trung tâm kinh tế – khoa học – kỹ thuật lớn và là một trong hai trọng tâm phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Hải Phòng hiện đảm nhiệm một cực tăng trưởng của tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm: Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, đồng thời giữ vị trí tiền trạm của miền Bắc, nơi đặt trụ sở của Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam.

I- LỊCH SỬ
Ngược dòng lịch sử vào những năm đầu công nguyên, khi nữ tướng Lê Chân khởi công gây dựng căn cứ và tuyển mộ nghĩa quân dưới ngọn cờ của Hai Bà Trưng, bà đã lập ra trại An Biên sau này đặt tên là “Hải Tần Phòng Thủ” là tiền thân của thành phố Hải Phòng ngày nay.
Đến thời Lê sơ, toàn bộ địa bàn Hải Phòng hiện nay thuộc vào trấn Hải Dương, là một trong “Thăng Long Tứ Trấn” mà ngày xưa gọi là Xứ Đông và Hải Phòng thuộc miền duyên hải cực Đông của xứ này.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi lập nên nhà Mạc với trung tâm quyền lực đặt ở Thăng Long.
Năm 1529, ông nhường ngôi cho con trai cả để lui về quê hương Cổ Trai làm Thái Thượng Hoàng, từ đó xây dựng Cổ Trai từ một làng chài ven biển thuộc huyện Nghi Dương của trấn Hải Dương khi đó (ngày nay là huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng) trở thành Kinh đô thứ hai của nhà Mạc với tên “Dương Kinh” tồn tại đồng thời với trung tâm Thăng Long.
Từ đó Dương Kinh được xây dựng như một “Kinh đô thu nhỏ” đóng vai trò trung tâm thứ hai của nhà Mạc sau thành Thăng Long.
Theo những mô tả của các bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư và Đại Việt thông sử thì Dương Kinh thời đó bao gồm nhiều quần thể kiến trúc Cung điện và Lầu các, với quy mô rộng lớn như: Các Dương Tự, Phủ Hưng Quốc, Điện Tường Quang, Phúc Huy, những Đồn binh, Kho lương và cả một Trường Quốc học song song với Quốc Tử Giám tại Thăng Long.
Ngoài ra, nhà Mạc còn xây dựng một số Thương cảng trên bến dưới thuyền làm nơi giao thương như: phố Lỗ Minh Thị, An Quý, Do Nha …
Ngày nay, các nhà sử học Việt Nam có chung nhận định rằng:
“Dương Kinh thời Mạc không chỉ là Kinh đô hướng biển mà còn là đô thị ven biển đầu tiên trong lịch sử Việt Nam”.
Khi nhà Mạc thất thủ ở Thăng Long năm 1592, phải rút lên đất Cao Bằng, tướng “nhà Lê-chúa Trịnh” là Trịnh Tùng đã đem quân đốt phá, san phẳng các công trình kiến trúc được xây dựng trên địa bàn Dương Kinh (thật là uổng lắm thay). Rồi suốt hơn 200 năm sau đó với các triều đại từ Lê-Trịnh đến Tây Sơn và cuối cùng là nhà Nguyễn, thì Hải Phòng cứ bị tách ra, rồi nhập vào … và trải qua vô vàn biến cố đổi thay của lịch sử.
Cuối cùng Hải Phòng được định hình bởi nhà Nguyễn vào khoảng năm 1871 – 1873 ngay trước đợt đánh chiếm Bắc kỳ lần thứ I của thực dân Pháp.

II- HẢI PHÒNG NHƯỢNG ĐỊA CỦA PHÁP
Năm 1874, nhà Nguyễn buộc phải ký “Hòa ước Giáp Tuất”, trong đó quy định chính quyền phải mở cửa thông thương các cảng Ninh Hải của Hải Phòng và Thị Nại tỉnh Bình Định để đổi lấy việc Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ. Sau đó tại cảng Ninh Hải này, nhà Nguyễn và Pháp lập nên một cơ quan thuế vụ chung, quản lý việc thương mại ở vùng này gọi là Hải Dương Thương Chính Quan Phòng.
Từ đây tên gọi Hải Phòng chính thức được nhắc đến về mặt địa lý.
Ngày 19-7-1888, Tổng thống Pháp khi đó là Sadi Carnot đã ký sắc lệnh thành lập Thành phố Hải Phòng, về mặt hành chính thì Thành phố Hải Phòng là một “nhượng địa”, nên thời kỳ này thuộc quyền “trực trị” của Pháp thay vì dưới thể chế bảo hộ của xứ Bắc kỳ.
Vào khoảng thập niên 1940, dân số Hải Phòng thống kê được 73.000 người, chiếm địa vị Thành phố lớn thứ tư sau Sài Gòn, Chợ Lớn và Hà Nội thời đó. Người Pháp đã nhanh chóng xây dựng Thành phố Hải Phòng thành trung tâm kinh tế và cảng biển loại lớn, gia tăng dân số (kể cả công dân Pháp lẫn người bản địa), kèm theo nhiều công trình xây dựng từ bến cảng, kho tàng, đường sắt, cho tới những khu phố, các dãy nhà và biệt thự kiểu Pháp tập trung ven bờ sông Tam Bạc, nơi còn lại tới ngày nay những dãy và khu nhà cũ, một vài biệt thự rêu phong và bị che lấp bởi nhà cao tầng cửa kính sáng bóng. Vậy là có một khu phố cổ Hải Phòng còn đó …

III- PHỐ CỔ TAM BẠC
“Hải Phòng có bến Sáu kho.
Có sông Tam Bạc có lò xi măng”.
Khi nói đến “phố cổ”, ai cũng mường tượng những dãy phố mang dáng dấp cổ kính chốn Hà thành nhưng du khách và nhiều người dân Hải Phòng lại ít biết rằng Thành phố vẫn còn lưu giữ đến bây giờ nhiều con phố cổ, mà trong đó có phố Tam Bạc. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, Tam Bạc vẫn giữ được những nét cổ kính trong không gian kiến trúc với những tòa nhà hàng trăm năm tuổi.
Sở dĩ có tên gọi này đơn giản là do tuyến phố chạy dọc theo một dòng sông có tên là Tam Bạc. Phố Tam Bạc được mở từ thời Pháp thuộc, ban đầu gồm hai đoạn phố với tên gọi là Marésanne Proc và Gaull de Luis.
Năm 1953, phố được đổi tên là Bạch Thái Bưởi.
Sau năm 1954, chính quyền cách mạng tiếp quản Thành phố và đổi tên thành phố Tam Bạc.
Từ thế kỷ thứ 17, trên sông Tam Bạc đã hình thành những hoạt động buôn bán và đánh cá. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã cho rằng nơi đây là điểm khởi phát của quá trình hình thành cảng Hải Phòng.
Đến thế kỷ 19, diện mạo của phố chỉ bắt đầu được định hình bởi thời điểm này giới kinh doanh người Pháp và người Hoa đã nhận thấy tiềm năng của mảnh đất này nên đã đến định cư và kiến tạo. Cũng vì vậy, phố Tam Bạc trước còn gọi là phố người Hoa do sự tập trung đông đúc và vai trò nổi bật của họ trong các hoạt động thương mại.
Nhìn từ trên cầu Lạc Long, khúc sông hiện thời khi xưa từng là nơi tàu thuyền hoạt động tấp nập với những bến tàu nổi tiếng như: bến tàu “Tây điếc” của người Pháp và bến tàu của nhà tư sản Việt Nam Bạch Thái Bưởi.
Tên phố Tam Bạc được đặt từ địa thế bên bờ sông Tam Bạc.
Lúc mới xây dựng được gọi là Quai Maréchal Foch – Bến Thống chế Phôc. Sau 1945 chuyển tên thành bến Bạch Thái Bưởi.
Lúc đầu, vì đây là bãi ruộng mới cải tạo nên các thương nhân thường dựng nhà sàn. Những người có bến tàu đầu tiên trên sông Tam Bạc là Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu nhưng sau đó do cuộc sống ở đây phức tạp và hỗn độn nên chính quyền Pháp phải đặt đồn cảnh sát để kiểm soát các bến sông. Tình trạng trên tồn tại đến 1955.

Ngày nay, Tam Bạc trở thành một phố cổ nằm ở khu vực trung tâm thành phố với vẻ đẹp từng đi vào những tác phẩm nghệ thuật và ghi dấu sâu đậm vào lòng mỗi người dân Hải Phòng. Ai đến thành phố Cảng này mà chưa thăm phố Tam Bạc có lẽ chưa thể gọi là đã đặt chân đến đất này.
Không chỉ cổ kính về kiến trúc, nếp sống ở phố Tam Bạc vẫn còn mang đậm hơi thở của một phố chợ bình dị và yên ả ven sông chưa bị lấn át bởi sự sôi động của nhịp sống hiện tại. Những bến đò nhỏ đưa hành khách qua sông vẫn hoạt động mặc dù đã có những cây cầu mới khang trang bắc qua sông Tam Bạc. Trước 1975, trên sông Tam Bạc còn có cầu treo thay cho đò ngang. Nay cầu treo đã không còn song những chuyến đò đưa khách qua sông vẫn còn được duy trì là một trong những nét riêng của bến sông Tam Bạc. Sông Tam Bạc lặng lờ trôi in bóng những ngôi nhà cũ kỹ tường bong vôi lở. Mặc cho hàng trăm, hàng nghìn con người đang bận rộn, bon chen với cuộc sinh nhai trong các gian hàng của chợ buôn, phố Tam Bạc vẫn bình yên, dòng sông Tam Bạc vẫn lặng im như những ngôi nhà rêu phong đã có từ lâu lắm.

Ngoài phố cổ Tam Bạc, Hải Phòng còn giữ được nhiều khu phố với kiến trúc khá nguyên vẹn từ thời Pháp thuộc. Như ở quận Hồng Bàng, nhiều phố với những biệt thự do người Pháp xây dựng vẫn được giữ nguyên về tổng thể, tập trung các cơ quan hành chính sự nghiệp. Ở quận Hồng Bàng xưa có khu phố Tàu gần chợ Sắt nay là Phan Bội Châu và Lý Thường Kiệt có những nét hao hao khu chợ Lớn ở TP Sài Gòn.
Những con phố, những tuyến đường và những công trình nối tiếp mọc lên bên cạnh những nét kiến trúc cổ điển còn lại từ hàng trăm năm làm cho Hải Phòng thành một đô thị giao hòa giữa cổ kính và hiện tại.
Ngày nay vẫn có thể khoanh vùng những khu phố Tây thuộc khu vực Điện Biên Phủ, Trần Phú, Lương Khánh Thiện, Minh Khai … với khu phố cũ tức các khu Lý Thường Kiệt, Tam Bạc, Kỳ Đồng, Hoàng Văn Thụ, Đinh Tiên Hoàng … Mỗi lần nhắc đến những con phố cổ hay những công trình kiến trúc cổ, người dân Hải Phòng đi ở phương xa vẫn rưng rưng nhớ về Thành phố, về những kỹ niệm năm tháng xưa cũ, nhớ về những bông hoa phượng rực đỏ ven hồ Tam Bạc trong ngày hè. Có thể nói, Tam Bạc chính là một trong những con phố làm nên nét riêng của Hải Phòng. Đặc biệt là những gì gắn với lịch sử của một con đường xưa cũ ấy.
Nằm vắt qua hai thế kỷ, phố Tam Bạc chạy dọc theo sông Tam Bạc thuộc quận Hồng Bàng bắt đầu từ cầu Lạc Long, vòng phía sau chợ Sắt, giáp với phố Quang Trung ở ngã ba đập Tam Kỳ thuộc đất xã An Biên cũ. Phố có vị trí đặc biệt trong quá trình hình thành đô thị Hải Phòng từ trước và ngày nay.

Tam Bạc có thể gọi là phố cũ bởi những dãy nhà ở đây xuất hiện khoảng đầu thế kỷ thứ 20, kiến trúc của những dãy nhà này tạo nên một nét xưa của xóm người lao động trước đây. Những cánh cửa gỗ hẹp ngang và cao, những ô cửa sổ nhỏ xíu nằm chót vót trên các tầng nhà, rêu phong, cổ kính …
Dọc theo con phố trong một buổi chiều mùa đông, không khí se lạnh vừa đủ để cảm nhận thêm cái tĩnh lặng của Tam Bạc phố và Tam Bạc sông.
Du khách sẽ thả bộ sâu hơn qua phố nhỏ Trạng Trình, dọc Ký Con cho tới góc Lý Thường Kiệt và Phan Bội Châu, những ngã tư hẹp thưa người vắng xe, một vài hàng nước trà nóng ngồi ghế gỗ, mặt ghế cũ ngả màu thời gian, ngước lên những góc cửa sơn xanh đậm đã xuống màu, ban công bằng sắt chạm hoa văn chi tiết và tinh tế, nghe cụ bà Đặng Thị Mai kể:
“Tôi mở hàng ăn, rồi quán nước ở góc ngã tư này từ thời con gái đến nay đã hơn năm chục năm có lẻ. Ngày ấy bố mẹ lúc sinh ra tôi cứ mơ về một phương Nam ấm áp đầy nắng nên đặt tên tôi là Mai ý là cây Mai vàng, tên ấy nghe mãi vẫn … trẻ chú nhỉ?”.
Cụ cười nhè nhẹ vừa rót chén nước trà đặc pha kiểu ngày xưa, rồi bảo:
“Mấy cái phố này, trước đây toàn là nhà kiểu Pháp đấy chú ạ, tường vôi vàng, cửa gỗ lim xanh ngắt, lại lợp ngói âm dương, nhưng trải qua chiến tranh bom đạn, rồi hòa bình phát triển khi nhà nước và nhân dân cùng xây nhà dựng mới cả nên các phố ấy phôi pha nhiều rồi. Tôi ở đây gần cả đời cũng quen, giờ có mời cũng không muốn chuyển đi đâu nữa. Sống gần trọn đời với phố cổ, yêu nó lắm chú ạ”.
Nếu bạn có dịp về Hải Phòng và còn chút thời gian rảnh, hãy thử tản bộ xem, phố cổ vẫn còn đó, nhà cũ vẫn thi thoảng gặp tuy hiếm dần, nhưng những góc ngã tư bình dị vắng xe, vài quán trà nóng hay hàng bánh đa gánh vẫn còn nguyên giữa chiều đông, chờ bạn đấy …
(Theo Nhật Giang – CAND)

IV- THƯƠNG CẢNG HẢI PHÒNG
Cảng Hải Phòng là một cụm cảng biển tổng hợp cấp Quốc gia, lớn thứ 2 ở Việt Nam và lớn nhất miền Bắc, là cửa ngõ quốc tế của Việt Nam nằm tại hai quận Hồng Bàng, Ngô Quyền và Hải An thành phố, bên cạnh đó cụm cảng Lạch Huyện Cửa ngõ Quốc tế mới loại 1A đang được hoàn thiện sẽ mang một tầm vóc mới cho cảng biển Hải Phòng.
Cảng Hải Phòng được người Pháp xây dựng năm 1874, là nơi được sử dụng để đổ bộ và tiếp tế cho quân đội viễn chinh. Sau đó, thương cảng này được nối liền với Vân Nam-Trung Quốc bằng đường xe lửa. Đến năm 1939, cảng này thực hiện 23% khối lượng vận chuyển xuất nhập khẩu của cả xứ Đông Dương.
Ngày 21-3-1956 Cảng Hải Phòng là một xí nghiệp do Ngành vận tải thủy phụ trách và quản lý.
Ngày 10-7-1965, Cảng Hải Phòng là xí nghiệp trực thuộc Cục vận tải đường biển.
Ngày 28-11-1978, Cảng Hải Phòng trực thuộc Tổng cục đường biển.
Ngày 29-4-1995, Cảng Hải Phòng trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam.
Ngày 12-10-2007, Cảng Hải Phòng chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty TNHH một thành viên. Cảng Hải Phòng trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam.
Ngày 01-7-2014, Cảng Hải Phòng chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần.
Cảng Hải Phòng hiện nay bao gồm các khu bến cảng chính sau:
– CẢNG VẬT CÁCH: Xây dựng năm 1965, ban đầu là những dạng mố cầu,có diện tích mặt bến 8×8 mét, cảng có 5 mố cầu bố trí cần trục ô-tô để bốc than và một số loại hàng khác từ sà lan có trọng tải từ 100 đến 200 tấn.
– CẢNG HẢI PHÒNG KHU CẢNG CHÍNH (trước gọi là Bến Sáu kho, còn gọi là Bến Hoàng Diệu) TRÊN SÔNG CẤM: Là cảng container nội địa, cảng bốc xếp và vận chuyển hàng hóa rời, chủ yếu phục vụ nội địa. Khu cảng này có 11 cầu tàu, độ sâu trước bến là – 8,4 mét. Hệ thống kho rộng 31.320 mét vuông. Hệ thống bãi rộng 163 nghìn mét vuông.
– Cảng Hải Phòng (khu bến Chùa Vẽ) trên sông Cấm: cảng container chuyên dụng, có 5 cầu tàu, hệ thống bãi rộng 179 nghìn mét vuông.
(Tổng hợp)

Đào tạo chứng chỉ nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch ở Hải Phòng _ 0969 650 993

Comments

comments

Share