DucBaChurch

Thông tin thuyết minh Sài Gòn – Đà Lạt – Nha Trang – Phan Thiết

  1. Tài Liệu Thuyết Minh Du Lịch Phan Rang – Nha Trang – Đà Lạt Bài Thuyết Minh Tuyến Phan Rang – Nha Trang – Đà Lạt Thuyết Minh Theo Tuyến Từ Tp.HCM->Nha Trang

Địa phận Tp.HCM: Trên mảnh đất mà ngày nay có Tp.HCM, từ đầu TK XVII đã có những người nông dân Việt Nam đến và khai phá rừng mở mang đồng ruộng. Họ là những người nông dân lao động không chịu đựng nổi sự áp bức, bóc lột của bọn phong kiến Trịnh – Nguyễn vì thế mà họ lần theo bờ biển Đông hoặc bằng những chiếc ghe bầu cưỡi đầu ngọn sông đi tìm đất sống tự do Cái tên Đồng Nai – Bến Nghé phản ánh rất đúng hiện thực rất chân chất và thơ mộng cũng ra đời từ đấy. Mảnh đất Bến Nghé này trãi qua gần 400 năm lịch sử đã mang rất nhiều tên khác nhau để rồi ngày nay được mang tên Hồ Chí Minh – người anh hùng đẹp nhất trong lịch sử Việt Nam Từ đầu TK XVII đến năm 1688 là Bến Nghé Từ 1688 là phiên trấn Dinh Năm 1698 là Tân Bình huyện Năm 1775 là Gia Định thành Năm 1790 là Gia Định kinh Năm 1802 là Gia Định trấn Năm 1809 là Gia Định thành, thủ phủ của tổng trấn Phiên An. Từ năm 1976 sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Quốc Hội chính thức lấy tên là TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh trong địa giới hôm nay rộng hơn 2093,7 km2; Dân số 5.554. 850 người (năm 2003), Là Thành Phố lớn và đông dân nhất của đất nước, có năng lực lớn về sản xuất kinh doanh và là một trong những thành phố đang phát phát triển khá sầm uất của khu vực Đông Nam Á. Gồm 20 quận và 5 huyện: Nội thành có 15 quận: Quận 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 11, Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân. Ngoại thành có 4 quận: quận 2, 9, 12, Thủ Đức 5 huyện : Nhà Bè, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ. Lịch sử hình thành nên khu vực này trải dài hơn 300 năm với biết bao thăng trầm. Ngày xưa đây là 2 huyện của xứ “ Sài – Côn “, vào năm 1698 Chưởng Binh Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh đã xây thành dinh Trấn Biên tại xứ Đông Phố, dinh Phiên Trấn tại xứ Sài – Côn và lấy vùng đất mới dẹp loạn và đặt tên là huyện Tân Bình (nghĩa là mới bình loạn). Việc xác định Sài Gòn ở vị trí trung tâm cho cả vùng đất mới phương Nam thể hiện xu thế phát triển và bản lĩnh kiên cường của một dân tộc vốn có nền văn hiến lâu

  1. 2. đời. Chính vì vậy Sài Gòn – Gia Định suốt mấy thế kỉ qua đã đứng vững trước bao thử thách và phát triển ngày càng nhanh chóng. Sài Gòn ra đời vào lúc chế độ phong kiến suy vong, giai cấp thống trị không còn tiêu biểu cho truyền thống cao quý của dân tộc. Song những người lao động, trước hết là những người nông dân, tụ hội từ 4 phương đến Sài Gòn vẫn mang trong mình dòng máu “Con Rồng Cháu Tiên”, vẫn giữ gìn truyền thống đoàn kết dân tộc và thống nhất quốc gia. Chính vì vậy trải qua ba thế kỷ đầy biến động và hào hùng, từ khi còn là mảnh đất hoang sơ cho đến khi hình thành một đơn vị hành chính, một trung tâm kinh tế văn hoá của cả nước; Sài Gòn luôn là mảnh đất yêu dấu trong lòng mỗi người dân Việt Nam. *Tọa lạc trên vùng đất Đông Nam Bộ, Sài Gòn ở vào vị trí có ưu thế lớn: -Phía Tây là bình nguyên bát ngát – vựa lúa cả nước, với những kênh rạch đủ sâu cho mọi loại thuyền. -Phía Đông là cảng biển lí tưởng cho sự giao lưu thế giới. Khí hậu nóng ẩm, song lại ít thiên tai, sản vật phong phú: lúa gạo, trái cây 4 mùa, sản phẩm rừng biển cùng cùng với sức lao động dồi dào và con người dũng cảm, cần cù, nhân hậu… Sài Gòn đã sớm trở thành nơi giao lưu kinh tế và thương mại có sức cuốn hút lớn. Khi bị ngoại xâm, không cam chịu mất nước, nhân dân Sài Gòn – Gia Định đã nhất tề đứng lên. Lịch sử đã ghi nhận tinh thần yêu nước nồng nàn và ý thức trách nhiệm cao cả của nhân dân Nam Bộ nói chung và Sài Gòn – Gia Định nói riêng trước vận mệnh dân tộc. Sau thời gian dài trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975 đã đánh dấu bước ngoặc mới cho sự hòa bình và ấm no của dân tộc Việt Nam. Tên thành phố Sài Gòn được đổi thành tên thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976. Sau hơn 10 năm cùng với cả nước thực hiện đường lối đổi mới kinh tế trên địa bàn thành phố tăng trưởng khá cao và ổn định đóng góp 37,8% GDP cả nước. Hiện nay, Tp.HCM là trung tâm du lịch lớn nhất cả nước , thu hút hàng năm 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam . Ngã Tư Hàng Xanh: Đây là một trong những giao lộ quan trọng và là cửa ngõ ra vào thành phố với lưu lượng hơn 20.000 lượt xe qua lại trong một giờ. Cho nên thường xảy ra tình trạng kẹt xe trong giờ cao điểm. Trước tình hình này UBND TP.Hồ Chí Minh đã xem xét dự án xây dựng giao lộ này với kinh phí xây dựng 15,6 tỉ đồng. Tên gọi Hàng Xanh bởi ngày xưa khu vực này có rất nhiều cây Sanh (một loại cây gỗ cùng họ với cây Si) đọc chạy nên có tên là Hàng Xanh. Người dân ở đây quen gọi là Ngã 4 Hàng Xanh. Khu Du Lịch Văn Thánh: Cầu Văn Thánh bắt qua rạch Văn Thánh đổ ra rạch Thị Nghè rồi sau đó đổ ra sông Sài Gòn. Phía bên tay phải là khu du lịch Văn Thánh một trong những nơi du lịch,vui chơi giải trí của thành phố, được xây vào năm 1988. đây là một cù lao nhỏ (khoảng 7ha) trước những năm 1975 còn được gọi là cù lao Bảy Mẫu. Theo sáng kiến của các nhà hoạt động văn hóa quận Bình Thạnh, cù lao Bảy Mẫu đã được đầu tư xây dựng thành khu du lịch Văn Thánh. Hàng năm vào ngày 5-1 âm lịch nơi đây thường tổ chức lễ hội mừng
  2. 3. chiến thắng của vua Quang Trung (Ký Dậu 1789)và cuộc thi tuyển chọn diễn viên điện ảnh, người mẫu. Tên gọi là Văn Thánh vì năm 1824(Minh Mạng đời thứ 5) ở khu vực này có xây dựng ngôi Văn-Miếu thờ đức Khổng Tử nên người dân gọi là khu Văn Tử dụng hánh nhưng trong thời Pháp miếu thờ này đã bị phá hủy và hiện nay không còn nữa. Bến Xe Văn Thánh: Bến xe Văn Thánh là một trong những bến xe lớn có từ lâu đời ở khu vực này. Từ đây có thể đi Biên Hòa-Vũng Tàu và một số tỉnh miền Trung. Khoảng cuối năm 1996 bến xe được dời sang bến xe Miền Đông vì ở đây xây dựng hệ thống đường lớn và cao tốc, nếu để bến xe ở khu vực này dễ gây ách tắt giao thông. Khu Tân Cảng: Khu Tân Cảng nằm ngay dưới chân cầu Sài Gòn phía hạ lưu quận Bình Thạnh. Cảng này được Mỹ xây dựng vào năm 1965, được xem là Hải Cảng Quân Sự lớn của Mĩ-Ngụy nhằm cung cấp vũ khí và đạn dược cho chiến trường miền Nam Việt Nam. Sau giải phóng thì đây là khu vực do hải quân Việt Nam kiểm sóat. Trong thời kinh tế thị trường (1990) khu Tân Cảng được chia thành 2 khu vực: khu vực kinh tế (cho tàu xuất nhập hàng hóa và kho để các Container). Từ cầu Sài Gòn nhìn xuống chúng ta có thể thấy rất nhiều Container xếp chồng lên nhau trong một khu vực lớn. Hiện cảng là trung tâm sửa chữa và tiếp tế hàng hóa chính của nền quân sự Việt Nam. Cảng Sài Gòn trực thuộc Cục hải quan Việt Nam, là cảng lớn nhất của Việt Nam hiện nay, đã trải qua trên 100 năm phát triển và là thành viên của Hiệp hội cảng quốc tế từ năm 1992. Hiện nay cảng còn tiếp tục thu hút đầu tư để phát triển và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế. Điều kiện tự nhiên của cảng Sài Gòn khá thuận lợi cho một cảng biển với độ dốc luồng 85 km từ Vũng Tàu với mức nước bình quân 11 m, thấp nhất là 9,7 m và cao nhất là 12,1 m. Cảng có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 30.000 DWT, dài 230m trong khoảng thời gian 6 -> 15 giờ/ngày. Khu Thanh Đa: Cư xá Thanh Đa gồm 29 lô chiếm diện tích 36ha được xây dựng 1973 làm khu nhà ở cho công nhân viên chức Đặc sản của khu vực này là: bánh tráng phơi sương cuốn thịt luộc, cháo vịt… ngoài ra ở đây còn nổi tiếng với Khu Du Lịch Bình Quới: gọi là khu du lịch dưới nước với nhiều hoạt động vui chơi trên đoạn sông Sài Gòn. Đến đây chúng ta có thể tổ chức các hoạt động dã ngoại như: lướt ván trên sông, câu cá giải trí, du thuyền trên sông…hàng năm ở đây thường tổ chức trại hè cho thiếu nhi toàn thành phố. Cầu Sài Gòn: Cầu Sài Gòn được xây dựng vào năm 1960 và hoàn thành vào năm 1964, cầu dài 987,2 m, rộng 16m, dài 32 nhịp, trọng tải 25 tấn. Đây là chiếc cầu quan trọng của cửa ngõ dẫn vào thành phố. Cầu do hãng C.E.C ( Captital Engineering Cooperation) thiết kế và hãng RMR (Mỹ) thi công xây dựng bắt qua sông Sài Gòn, kinh phí do chính quyền Mỹ tài trợ, sông Sài Gòn bắt nguồn từ Sông Bé(Sông Mê Kông) chảy qua Củ Chi, Thanh Đa, Nhà Bè rồi đổ ra cửa biển Cần Giờ qua sông Soài Rạp. Năm 1998, ta liên minh với Pháp xây dựng, sửa chữa và nâng cấp lại phần chịu lực đồng thời mở rộng từ 16m thành 25m với tải trọng 45 tấn. Trong tương lai sẽ có thêm một cây cầu nữa bắc song hành với cây cầu cũ nhằm giảm bớt áp lực cho cầu Sài Gòn. Cầu Sài Gòn là ranh giới giữa đường Điện Biên Phủ và xa lộ Hà Nội. Sông Sài Gòn dài 220 km, bắt nguồn từ cao nguyên Hớn Quảng. Một đoạn của con sông này là ranh giới tự nhiên của tỉnh Tây Ninh và Bình Phước. Một phần đổ vào hồ Dầu Tiếng, sau khi chảy qua Bến Cát sông lại nhập chung với sông Đồng Nai và đổ ra cửa biển Gành Rái.
  3. 4. Xa lộ Biên Hòa: Xa lộ Biên Hòa dài 31 km, rộng 21m được xây dựng từ năm 1956->1961 do Mỹ viện trợ. Xa lộ Biên Hòa nối liền từ cầu Điện Biên Phủ(trước đây là cầu Phan Thanh Giản) đến ngã ba Tam Hiệp ( Hố Nai) theo dự định ban đầu xa lộ có 4 làn xe nhưng do thất bại trong “chiến tranh đặc biệt” Hoa Kỳ đã cắt giảm kinh phí nên năm 1964 xa lộ được khánh thành chỉ với 2 làn xe. Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng con đường này như một đường bằng quân sự dã chiến phòng khi sân bay Tân Sơn Nhất gặp sự cố. Đến năm 1971 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho rằng xa lộ sẽ là 1 đường băng tuyệt vời cho quân giải phóng tấn công Sài Gòn nên đã cho xây dựng 1 con lươn chạy dọc theo xa lộ. Tuy vậy xét về mặt giao thông vận tải thì đây là một điều kiện tốt nhằm giúp cho giao thông trên xa lộ được an toàn hơn. Ngày 10-10-1984 nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng Hà Nội, xa lộ Biên Hòa đổi tên là xa lộ Hà Nội. Năm 1998, cùng với dự án khôi phục QL 1A, xa lộ Hà Nội cũng được khôi phục và mở rộng, bàn giao lại cho chính phủ Việt Nam vào ngày 20/1/1998. Đây là con đường quan trọng về kinh tế, quân sự nối liền miền Bắc và Sài Gòn. Ngã ba Cát Lái: Nằm trong xa lộ cao tốc TP. Hồ Chí Minh-Vũng Tàu với chiều dài 96,6 km và chiều rộng 23m, tổng dụ án dự kiến là 645 triệu USD dược thực hiện bởi liên doanh Anh và Việt Nam, xa lộ cao tốc này sẽ được thiết kế với 4 làn xe và bắt qua cấu Đồng Nai mới. Cầu Rạch Chiếc.: Đọan đường từ cầu Sài Gòn đến cầu Rạch Chiếc là địa bàn thuộc quận 2, cầu Rạch Chiếc đến cầu Đồng Nai thuộc Quận 9 và Quận Thủ Đức.cầu Rạch Chiếc được xây dựng từ năm 1960. Đây là cửa ngõ quan trọng về quân sự của chính quyền Sài Gòn, cầu dài 184m, rộng 8,5m. Vào 27/4/1975 tại chân cầu đã xảy ra 5 cuộc giao tranh ác liệt giữa quân giải phóng và quân Việt Nam Cộng Hòa, sở dĩ cầu có tên Rạch Chiếc là do khi làm cầu này ở sông có loại rau chiếc nên được gọi là cầu Rạch Chiếc. Quận Thủ Đức- Lâm Viên Thủ Đức: Trước kia Thủ Đức là một huyện ngoại thành có diện tích 20.000ha. Vào ngày 4-4-1997 để mở rộng trung tâm nội thành ra , UBND thành phố quyết định thành lập 5 quận mới. Trong đó Thủ Đức được tách ra thành 3 quận ngoại thành: quận 2,quận 9 và quận Thủ Đức. Xét về tiềm năng kinh tế tại khu vực Thủ Đức này phát triển rất nhiều cơ sở đầu tư của nước ngoài; món ăn đặc sản ở đây là nem Thủ Đức. Lâm viên Thủ Đức:vào ngày 22-4-1992 được phép của Uy Ban Hợp Tác Đầu Tư Nhà Nước bởi 4 công ty: Lâm Viên Thủ Đức, Du Lịch Thành Phố, Liksin và công ty Đài Loan Liên Doanh xây dựng tại đây sân Golf 36 lỗ đạt tiêu chuẩn quốc tế và một khách sạn 120 phòng đạt tiêu chuẩn 3 sao và những công trình phụ như: sân quần vợt, hồ bơi, sân chơi trẻ em…với tổng kinh phí 7 triệu USD hoàn thành năm 1996. Khi bắt đầu xây dựng thì đã có nhiều nguồn dư luận nhưng sau đó có kết luận của Thủ Tướng Chính Phủ sân Golf mới đi vào xây dựng yên ổn. Hiện nay sân tập đánh Golf đã hình thành và thẻ hội viên thường trực của Golf là 5.000 USD/người. Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên: Nhà máy xi măng Hà Tiên được người Pháp xây dựng từ năm 1969 đến 1964 nhằm cung cấp xi măng cho các tỉnh thành phố. Vị trí nhà máy rất thuận tiện cho việc chuyển nguyên liệu từ nhà máy xi măng Kiên Lương ở Hà Tiên về đây bằng đường bộ lẫn đường thủy. Do nguồn nguyên liệu chủ yếu được khai thác từ Hà Tiên nên gọi là xi măng Hà Tiên. Đến cuối năm 1994 nhà máy Hà Tiên đổi thành Công Ty xi măng Hà Tiên 1. Sản lượng hiện nay hơn 2 triệu tấn/năm. Xa Lộ Đại Hàn: Xa Lộ Đại Hàn dài 40 km, rộng 24 m bao bọc vòng quanh thành phố kết thúc tại ngã 3 An Lạc- Bình Chánh. Xa lộ được xây dựng vào năm 1963 dưới sự viện trợ của Mĩ với mục đích giải tỏa lưu lượng xe cộ từ các tỉnh phía Bắc vào Nam tạo thành vòng đai bảo vệ thành phố, cản bước tiến quân của bộ đội chủ lực và du kích tràn vào Sài Gòn. Xa lộ này có tác dụng lớn về quân sự,lẫn kinh tế, nối các tỉnh miền Đông với các tỉnh
  4. 5. miền Tây Nam Bộ mà không phải qua thành phố. Xa lộ Đại Hàn do một công ty Đại Hàn xây dựng nên nó có tên là xa lộ Đại Hàn. Suối Tiên Thủ Đức: Lâm trại Suối Tiên cách trung TP. Hồ Chí Minh 19 km thuộc xã Tân Phú huyện Thủ Đức, cách Xa Lộ Hà Nội khoảng 100 m, nơi đây có một dòng suối thiên nhiên lâu đời uốn lượn qua những cụm rừng nguyên sinh và đổ dòng qua 6 ngọn đồi, tạo thành 6 ngọn thác nhỏ. Suối chảy qua các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé và hạ nguồn chảy qua Lâm Trại dài 1.200m, như một dải lụa trắng. Mùa xuân hoa mai vàng nở rộ dọc theo triền suối. Trước vẻ đẹp thơ mộng và quyến rủ ấy người dân ở đây không ngần ngại đặt tên là Suối Tiên. Thánh 6-1993 đồ án quy họach được văn phòng kiến trúc sư trưởng phê duyệt và UBND thành phố cho phép thực hiện theo quy họach Lâm Trại Suối Tiên trên diện tích 120 ha với vốn đầu tư bước đầu là 50 tỉ đồng cho các công trình vui chơi tham quan trên diện tích 20 ha. Đến với Suối Tiên quý khách sẽ được tận hưởng những giây phút thoải mái không khí trong lành cùng với thiên nhiên và đặc biệt được chiêm ngưỡng hình ảnh một con rồng được xây dựng theo truyền thuyết “con rồng cháu tiên” lớn nhất Việt Nam, dài 400 m được đúc bằng bêtông. Trong tương lai một phần của sở thú sẽ được chuyển ra đây. Nghĩa trang Thành phố.: Nghĩa trang Thành Phố là nơi quy tụ mộ anh hùng liệt sĩ, đã hy sinh trong 3 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và Campuchia. Nghĩa trang này rộng 3 ha gồm hơn 12.000 ngôi mộ được sắp xếp xung quanh đài tưởng niệm “ Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng” . Công trình được xây dựng năm 1984 và hoàn thành vào 4-1987. Cầu Đồng Nai: Cầu Đồng Nai được xây dựng vào năm 1959-1961 do hãng C.E.C thiết kế và hãng Joushin Deake thi công, cầu dài 454 m, rộng 16 mét, trọng tải 25 tấn, gồm 27 nhịp được bắt qua con sông Đồng Nai, con sông quan trọng của tỉnh Đa Nhim-Đa Dung có nguồn gốc từ cao nguyên Lâm Viên(Lang Bian) ở độ cao 1776 m đổ về, chảy qua địa phận tỉnh Đồng Nai sau đó kết hợp với sông Sài Gòn và đổ ra vịnh Gành Rái. Sông Đồng Nai :Hệ thống sông Đồng Nai-Vàm Cỏ là hệ thống sông kép vì hai con sông này chỉ gặp nhau ở ngoài cửa Soài Rạp và được kết nối với nhau bằng những con kênh nhân tạo. Đây là hệ thống sông lớn thứ ba trong nước sau hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long. Chiều dài sông chính là 635 km, diện tích toàn khu vực là 44100 km2 phát triển chủ yếu ở Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, một phần ở Tây Nam Bộ và Campuchia. Hệ thống sông Đồng Nai và Vàm Cỏ có tổng lượng nước vào khoảng 32,8 tỉ m3/năm. Thủy chế tương đối đơn giản vì chỉ có một mùa mưa và một mùa cạn. Sông Đồng Nai có giá trị cả về giao thông, sinh hoạt, nông nghiệp và thủy điện. Từ trên cầu, ở ngã ba sông về phía thượng lưu là Cù Lao Phố. Ngược dòng lịch sử, năm 1679, khi triều Minh Mạng ở Trung Hoa bị nhà Thanh lật đổ có khoảng 3000 binh sĩ và gia đình trong nhóm bài Thanh phục Minh đã đến nước ta và xin Chúa Nguyễn cho làm dân Việt. Trong đó có một nhóm do Trần Thường Xuyên làm thủ lĩnh đến cư trú tại đây và lập nên một cảng có hoạt động thương mại sầm uất gọi là Nông Nại Đại Phố. Năm 1698, thừa lệnh của Chúa Nguyển, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý, ông thấy vùng đất này trù phú và yên bình nên đã dừng chân tại đây. Ông đã chia đặt các đơn vị hành chính và thành lập chính quyền Nam Bộ, hai huyện đầu tiên là Phước Long và Tân Bình. Sông Đồng Nai là ranh giới tự nhiên giữa thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai. Tỉnh Đồng Nai: Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.862,73 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ.
  5. 6. Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2003 là 2.149.030 người, mật độ dân số: 365 người/km2. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2004 là 1,22%. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa – là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Nhơn Trạch; Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú. Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau: Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận. Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng. Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc – Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. Lịch Sử Hình Thành Cuối thế kỷ XVI, vùng đất Đồng Nai vẫn còn hoang dã, chưa được khai phá, người dân bản địa gồm các dân tộc Stiêng, Mạ, Kơ ho, M’nông, Chơ ro và một vài sóc người Khơ me sinh sống. Dân ít, sống thưa thớt, kỹ thuật sản xuất thô sơ, trình độ xã hội còn thấp. Cuộc chiến tranh của họ Trịnh và họ Nguyễn ở miền Trung và Bắc Việt Nam làm cho dân chúng khổ sở, điêu đứng và tạo ra một làn sóng di cư của người dân miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sống. Bản tính cần cù, chịu khó, lưu dân người Việt đã cùng với người bản địa chung sức khai phá đất đai để sản xuất nông nghiệp. Dần dà, rừng rậm hoang vu đã trở thành những cánh đồng lúa và hoa màu tươi tốt. Năm 1679, nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay). Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (là cả Nam Bộ bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế. Người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đầu tiên định cư ở Bến Gỗ, nhưng thấy Cù lao Phố có vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán, họ đã quyết định di chuyển đến đây sinh sống. Từ đây, Cù lao Phố phát triển ngày càng phồn thịnh và nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Gia Định (Nam bộ ngày nay). Theo ông Vương Hồng Sển, thời chúa Nguyễn một số người Trung Quốc không theo nhà Thanh mà di dân
  6. 7. sang Việt Nam, xuống đây khai khẩn đất hoang để sinh sống. Họ lập ra Nông Nại Đại Phố, về sau đọc trại thành Đồng Nai. Đồng Nai là vùng đất con người cư trú rất sớm, những di chỉ khảo cổ ở Hang Gòn, Cầu Sắt có các công cụ bằng đá của người tiền sử, ở Dốc Chùa có những khuôn đúc đồng cách đây 3000 năm. Vùng Bà Rịa của tỉnh Đồng Nai cũng là nơi người Việt vào khai phá đất hoang sớm nhất trong cả Nam Bộ. Năm 1679, một nhóm người Hoa đã đến cư trú cùng người Việt tại vùng Biên Hòa và lập nên khu vực chợ búa quan trọng nhất Nam Bộ trong thế kỷ 18-Cù Lao Phố. Sử sách ghi lại, nơi đây xưa kia là khu chợ sầm uất với phố xá mái ngói tường vôi, lầu cao, quán rộng dọc theo suốt bờ sông. Thuyền buôn của các nước đền đây buôn bán tấp nập. Đến khoảng 1776-1777 trong cuộc chiến giữa Tây Sơn và họ Nguyễn, Cù Lao Phố bị tàn phá và suy sụp hẳn. Thương gia ở đây về vùng Sài Gòn lập nên Chợ Lớn ngày nay. Cù Lao Phố ngày nay thuộc địa phận của xã Hiệp Hòa trong thành phố Biên Hòa. Tỉnh lỵ là thành phố Biên Hòa. Người Kinh chiếm vị thế ưu thế, bên cạnh đó còn có các dân tộc khác như Mạ, Khơ-Mú, Tày, Nùng. Thái… Ưu thế là cây nông nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, mía, đậu phộng, đậu tương, thuốc lá.Đặc sản nơi đây là bưởi: bưởi Tân Triều, bưởi Đường Núm, bưởi thanh, bưởi Xiêm…nhưng thường gọi chung là bưởi Biên Hòa. Diện tích cây cao su đứng thứ hai cả nước sau Bình Phước. Tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng với nghề làm gốm, tạc tượng. Sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân Đồng Nai đã cố gắng tập trung khôi phục lại những gì chiến tranh đã lấy đi, đồng thời xây dựng và phát triển những cái mới mẻ để sánh vai kịp cùng với thành phố Hồ Chí Minh. Khu Công Nghiệp Biên Hòa: Đồng Nai là tỉnh có ngành công nghiệp phát triển,toàn tỉnh có 120 công ty nhà máy với 72000 lao động. Riêng khu công nghiệp Biên Hòa là trung tâm công nghiệp lớn nhất tỉnh được bao bọc một bên là sông Đồng Nai, một bên là xa lộ Hà Nội và một bên là tỉnh lộ 51 rất thuận tiện cho việc thông thương cả về đường thủy và đường bộ. Khu công nghiệp Biên Hòa 1 được thành lập từ 1963 với tên gọi là khu kỹ nghệ Biên Hòa, với tổng diện tích theo quy hoạch ban đầu là 511 ha. Theo các tài liệu để lại, ý đồ của chính quyền Sài Gòn lúc đó là xây dựng một khu công nghiệp tập trung với định hướng ưu tiên bố trí các nhà máy, xí nghiệp sử dụng nông phẩm và nguyên liệu trong vùng, sản xuất hàng tiêu dùng và các cơ sở dịch vụ để giải tỏa dần các nhà máy, xí nghiệp khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn với định hướng ban đầu là thiên về công nghiệp chế biến và công nghiệp nhẹ. Sau khi được tiếp quản, khu kỹ nghệ có 95 xí nghiệp. Cơ cấu 95 xí nghiệp phân thành các nghành như: công nghiệp nặng(điện, luyện kim, cơ khí) có 10 xí nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng có 68 xí nghiệp, công nghiệp vật liệu kiến trúc xây dựng 12 xí nghiệp. Khu Thiên Chúa Giáo Hố Nai: Khu Thiên Chúa giáo Hố Nai cách trung tâm thành phố Biên Hòa 3 km về phía Đông Bắc, nằm trên giải đất dài 12 km với nhiều nhà thờ rải rác hai bên quốc lộ 1. Trước năm 1954, khu đất còn là rừng hoang thuộc địa phận xã Bình Phước, huyện Đức Tu tỉnh Biên Hòa; năm 1954 có hơn 40.000 đồng bào theo đạo thiên chúa giáo thuộc 25 xứ đạo tư nhiều tỉnh trên miền Bắc, đặc biệt là tỉnh Hà Nam Ninh cũ, đã di cư vào đây, lập trại định cư theo sự bố trí của chính quyền Ngô Đình Diệm. Tháng 8-1956 Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh gọi trại định cư này là Hố Nai, xã có diện tích 2090 ha, trụ sở cách trung tâm thành phố Biên Hòa 10 km, cư dân ở đây tuyệt đại đa số là người Việt chỉ có rất ít là người Nùng. Hiện nay xã Hố Nai đã trở thành một khu dân cư đông đúc và hoạt động kinh tế phong phú với dân số lên đến 100.000 người, nhiều cơ sở tôn giáo và y tế giáo dục được xây dựng, xã có gần 30 nhà thờ, 28 trường học, 1 bệnh viện và các cơ sở từ thiện của khu vực. Sau năm 1975 xã Hố Nai được chia thành 4 khu: Hố Nai 1,2,3 và 4 thuộc huyện Thống
  7. 8. Nhất-Đồng Nai. Ngày nay Hố Nai là một trong những trọng điểm sản xuất dịch vụ đang phát triển mạnh của miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là chế biến gỗ phát triển mạnh của miền Đông Nam Bộ. Ngã Ba Dầu Giây: Ngã Ba Dầu Giây là điểm giao nhau giữa quốc lộ 20 và quốc lộ 1A, cách thành phố Hồ Chí Minh 67 km. Sở dĩ có tên là Dầu Giây là vì vào năm 1954 thi người Bắc di cư vào đây họ mang một số trầu dây leo. Nhưng họ không phát âm được chữ “trầu” mà phát âm là chữ “dầu” do đó mới có tên là Dầu Giây. Có giải thích cho rằng: ngày xưa ở đây có một cây dầu thật to có nhiều dây leo bám chằng chịt. Đặc biệt quanh vùng chỉ có dây dầu này là to nhất nên địa phương mới đặt tên nơi đây thành một địa danh: Dâu Giây và do ở đây là ngã 3 nên mới gọi là Ngã 3 Dầu Giây. Đèo Mẹ Bồng Con: Đèo Mẹ Bồng Con là ngọn đèo đầu tiên trên con đường Bắc Nam, cách Ngã 3 Dầu Giây khoảng 4 km theo quốc lộ 1A, ở khu vực này gồm 1 con dốc lớn và và một dốc nhỏ. Trước đây người ta kể rằng: có một người phụ nữ mang thai, khi qua khu vực này thì chẳng may gặp tai nạn chết và đêm đêm người dân ở đây kể lại rằng thường nghe tiếng người phụ nữ bồng đứa con hay qua lại khu này than khóc oan ức, nên người ta đã đặt tên cho khu vực này là Đèo Mẹ Bồng Con. Thủy điện Trị An: Trị An là thác nước cuối cùng trên con sông Đồng Nai trước khi chảy vào đồng bằng. Với sự giúp đỡ của Liên Xô và sự đóng góp công sức của cả nước, công trình thủy điện lớn thứ hai sau thủy điện Hòa Bình trên sông Đà đã khởi công xây dựng năm 1983. Đập chính chắn ngang sông Đồng Nai được xây dựng phía thượng nguồn của thác Trị An, tạo nên hồ rộng 232 km2 chứa 3 tỷ m3 nước. Nước từ hồ chính đưa qua hồ phụ rồi chảy qua nhà máy làm quay, 4 tổ máy có công suất tổng cộng 400 MW. Sản lượng điện hàng năm đạt 1,7 tỷ kv/h. Cây Cao Su: Cây Cao Su có tên khoa học là Hevèa, nguồn gốc ở Nam Mỹ mọc theo dòng sông Amazon(chảy từ Pêru qua Braxin và đổ về Đại Tây Dương). Thổ dân Mainás dùng một thứ nhựa trắng của cây bôi lên quần áo để chống ẩm và mưa, họ còn dùng nó để tạo ra những viên bi, quả bóng vui chơi trong những dịp lễ hội và họ gọi thứ nhựa này là Caoutchouk có nghĩa là nước mắt của cây và người Pháp đã phiên dịch ra thành cao su. Năm 1877 các nhà khoa học Pháp đã đưa giống cây cao su từ Philippines về trồng tại vườn thực vật Sài Gòn và một số nơi khác. Do không hợp cây cao su chết hết Năm 1905 Raoult đem một số cây ở Jakarta về trồng ở vùng đất Bazan. Bác sĩ Yerin cũng nhận được một số cây và đem về trồng ở Suối Dầu và chính từ đây cây này là hạt nhân đã tạo ra các nông trường cao su ở nước ta. Chính phủ bảo hộ Pháp đã tìm những nơi đất thích hợp để lập đồn điền cao su. Tuổi thọ cây từ 20->30 tuổi. Cây thanh long: Cây thanh long có tên tiếng Anh là Ritahaya hay còn gọi là Dragon Fruit thuộc họ xương rồng ở Việt Nam từ lâu, nhưng mới được đưa lên thành hàng hóa trong vài năm gần đây, Việt Nam hiện nay là nước duy nhất ở Đông Nam Á có trồng Thanh Long tương đối tập chung nên quy mô thương mại với diện tích ước tính khoảng 2.000 ha trong đó Bình Thuận chiếm 1.000 ha. Cây Thanh Long là cây có nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn giỏi nên được trồng ở những vùng nóng. Đặc biệt cây Thanh Long có hiện tượng rụng nụ, khi số lượng nụ trên cành nhiều sau khi xuất hiện từ 5->7 ngày thì nụ không phát triển vàng rối rụng. Tỷ lệ rụng từ 10->20%, đặc biệt nhất ở cây này có vòng chín 3 lần. Từ xanh sang đỏ, từ đỏ sang xanh, từ xanh sang đỏ sậm đến lần chín thứ 3 là lần chín cuối cùng và là lần ngon nhất của trái Thanh Long nhưng làm vậy cây sẽ mất sức nên nhà vườn chỉ để chín lần 2 là bán ra thị trường. Hiện nay trái thanh long còn được xuất khẩu sang các thị trường các nước như: Đài Loan, Singapore,HongKong, Nhật Bản…. Và các nước Châu Au.
  8. 9.  Bình Thuận: Cách thành phố Hồ Chí Minh 188 km, phía Bắc và Đông Bắc giáp Ninh Thuận, Tây Bắc giáp Lâm Đồng, Tây Nam giáp Đồng Nai, Đông và Đông Nam giáp biển, Tây Nam giáp Bà Rịa-Vũng Tàu. Diện tích tự nhiên: 7.854 km mét vuông.  Dân số: 1.090.000 người. Nhiều dân tộc, đa số là dân tộc Kinh chiếm 80%, số còn lại là dân tộc, C7841;i là dân tộc, Chăm, Hoa, K’Ho…  Vị trí: Cách thành phố Hồ Chí Minh 188km. Phía bắc và đông bắc giáp Ninh Thuận, tây bắc giáp Lâm Ðồng, tây giáp Ðồng Nai, đông và đông nam giáp biển, tây nam giáp Bà Rịa – Vũng Tàu. Ðơn vị hành chính: Thành phố Phan Thiết và 8 huyện: Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Ðức Linh, Tánh Linh và huyện đảo Phú Quý.  Ðịa hình: Thuộc phần cuối dãy núi Trường Sơn cao hơn 1.000m đâm ra biển, độ dốc cao. Có sông La Ngà và 6 con sông nhỏ. Ðất canh tác chiếm 1/7 tổng diện tích. Ven biển nhiều đồi cát và ngập mặn.  Khí hậu: Thuộc khu vực khô hạn nhất cả nước, lượng mưa ít, trung bình 1.000 đến 1.600 mm/năm (bằng 1/2 lượng mưa trung bình ở Nam Bộ). Nhiệt độ trung bình 27 độ C. Ðộ ẩm trung bình 80%.  Công trình lớn quốc gia: Cụm thủy điện Hàm Thuận – Ða Mi công suất 476 Mw/h. Bình Thuận – những cái nhất cả nước 1. Vùng đồi cát Mũi Né đẹp nhất và hoạt động du lịch dã ngoại sôi động nhất. 2. Bãi đá Cổ Thạch ở Tuy Phong nhiều hình hài màu sắc nhất. 3. Ngọn đèn biển Khê Gà 100 m hơn trăm tuổi bằng đá cao nhất. 4. Tượng Phật nằm lớn nhất dài 49 m nằm giữa rừng nguyên sinh trong khuôn viên chùa Linh Sơn Trường Thọ trên núi Tà kú thuộc Hàm Thuận Nam. 5. Tháp nước đẹp nhất cao 32m, 70 tuổi ở trung tâm Phan Thiết (do Hoàng thân Xuvanuvông thiết kế). 6. Ðền thờ cá voi Vạn Thủy Tú lớn nhất, lưu giữ hơn 100 bộ xương cá voi ở Phan Thiết. 7. Vùng trồng thanh long nhiều và ngon nhất, sò điệp nhiều và có giá trị nhất. 8. Có nhiều cuộc thi dân gian độc đáo nhất như đua thuyền trên sông Cà Ty, leo núi Tà kú, chạy việt dã qua đồi cát. Quy mô hội thi và rước đèn Trung thu lớn nhất cho trẻ em. Bình Thuận là địa danh chung chỉ vùng đất Nam Trung Bộ thời các đời chúa Nguyễn cho mở mang khai khẩn. Trải qua 300 năm, những thay đổi địa giới, đơn vị hành chính và dân cư theo các biến cố lịch sử đã hình thành tỉnh Bình Thuận ngày nay. Vào cuối tháng 10-1995, hàng vạn nhà khoa học, khách du lịch trong nước và thế giới đổ về Mũi Né để chiêm ngưỡng và nghiên cứu hiện tượng nhật thực toàn phần cả trăm năm mới có thì cũng đồng thời nhận ra nơi họ đến đón kỳ quan vũ trụ có nhiều cảnh quan kỳ thú và tiềm năng kinh tế phong phú. Khắp nơi trên đất này, nơi đâu ta cũng gặp các cánh đồng lúa, vườn điều xanh tươi, những gốc thanh long trái mọng đỏ, vị nồng ấm của các sản phẩm miền biển tràn đến từ những cánh đồng muối, những vuông nuôi tôm nối nhau, những bến cá, bãi phơi hay từ những xưởng nước mắm …. Thiên nhiên Bình Thuận có 192 km bờ biển, có huyện đảo Phú Quý và nhiều đảo nhỏ, vũng, vịnh trước ngư trường rộng lớn có nhiều dòng hải lưu, hội tụ các đàn cá, tôm, mực… Với 4.600 con tàu lớn nhỏ, ngư dân thạo nghề ở đây mỗi năm đánh bắt được 130 ngàn tấn hải sản các loại. Mực là sản phẩm giá trị nổi tiếng của tỉnh với sản lượng hơn 20.000 tấn/năm chế biến dưới dạng đông lạnh hoặc sấy khô được ưa chuộng ở thị trường trong và ngoài nước. Thương hiệu nước mắm Phan Thiết từ lâu có chất lượng và hương vị riêng vẫn cung cấp đều đặn hơn 20 triệu lít/năm cho thị trường nội địa. Phần diện tích hơn 52.000 ha bãi triều ngập mặn trong
  9. 10. tỉnh thuận lợi tạo ao đầm nuôi tôm sú, đặt lồng bè nuôi cua, cá, đặc biệt sò điệp chiếm 75% sản lượng khai thác cả nước, chúng được chế biến dưới tên hiệu xuất khẩu Queen Scallop danh tiếng. Các huyện ven biển những năm gần đây đã phát triển mạnh mẽ nghề nuôi thủy hải sản, đặc biệt là tôm sú, thu hút mạnh vốn đầu tư từ nhiều nguồn. Dải đất nhiều nắng ít mưa này không thuận trồng lúa, nhưng hợp với cây công nghiệp dài ngày như cao su, điều, tiêu, đặc biệt cây trái thanh long xuất khẩu 25.000 tấn/năm, đang phát triển vùng bông vải 10.000 ha. Nhà nước đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho từng hạng mục xây dựng hồ trữ nước, mạng thủy lợi cho sản xuất và sinh hoạt Chỉ trong vài năm, một trọng điểm du lịch cấp quốc gia thứ 10 – Du lịch Bình Thuận được đánh dấu son trên bản đồ, dành cho loại hình du lịch dã ngoại, sinh thái nghỉ dưỡng đang rất được khách ưa chuộng. Năm 1996 Phan Thiết chỉ có vài khách sạn, nhà nghỉ nhỏ, cả năm đón vài chục ngàn khách thì đến nay đã có 202 dự án đầu tư du lịch với vốn đăng ký 1.300 tỷ VNÐ và 7 dự án nước ngoài đăng ký vốn 30 triệu USD được cấp phép, trong đó 67 dự án trong nước và 4 của nước ngoài đang hoạt động. Mỗi dự án đều cố gắng hòa với thiên nhiên sẵn có, cống hiến nhiều sáng tạo trong thiết kế, trang bị hiện đại tiện nghi, phục vụ chu đáo, tất cả đều muốn cho du khách có những ngày nghỉ đáng nhớ. Khu dã ngoại leo núi, tắm suối nước nóng ở Tàkóu; Khu dã ngoại mạo hiểm vùng hồ Biển Lạc, vượt thác Ch’reo, thăm rừng nguyên sinh Tánh Linh. Ngành du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong tỉnh. Núi Tà Cú: Núi Tà Cú là tên gọi của người Chăm. Núi thuộc huyện Hàm Tân có độ cao khoảng 480 m so với mặt nước biển. Trên lưng núi có chùa Linh Sơn Trường Thọ. Chùa có từ thới vua Tự Đức. Tên chùa do nhà vua ban tặng khi vị thiền sư tại chùa chữa khỏi bệnh cho Từ Dũ- mẹ vua. Chùa có tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn dài 49 m, được dựng năm 1962. Sông Cà Ty: Sông Cà Ty hay còn gọi là sông Mường-Mán hay sông Cái. Trên song có bến phà Cà Ty là nơi qua lại lấy nước và tắm giặt của người dân trong vùng Phú Hội và Phú Mỹ. Sông là nơi tụ hội nhiều con sông Mán, sông Rao Ét, sông Linh… và các con suối Vàng, Lèn… Con sông đi qua địa phương nào thì được người dân ở địa phương đó lấy tên quê hương đặt cho để nói lên tình cảm của mình đối với con sông. Thành phố Phan Thiết: Cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km, được thành lập 20/10/1898. Thành phố PhanThiết nằm ở hai bên sông Cà Ty. Ngày 25/8/1999 PhanThiết được nâng cấp từ thị xã lên thành phố. Bên hữu ngạn là khu di tích trường Dục thanh và phân viện bảo tàng Hồ Chí Minh với tượng đài Bác nhìn ra dòng sông. Phan Thiết gắn liền với những địa danh như Lầu Ông Hoàng, Tháp Pô Shanư, những rặng dừa xanh ngút, những đồi cát vàng óng… Với vùng biển trải dài, Phan Thiết gắn liền với ngành kinh tế biển góp phần làm giàu cho đất nước. Vịnh Phan Thiết tương đối kín gió lại nằm trên dòng hải lưu nóng lạnh tạo nên nguồn hải sản phong phú. Ngày nay đến với Phan Thiết chúng ta sẽ thấy được những khu nghỉ mát rất đẹp, những điểm tham quan ngày càng mới mẻ… đã góp phần cho Phan Thiết trở thành điểm thu hút khách du lịch. Nhà máy nước suối Vĩnh Hảo: Thuộc xã Vĩnh Hảo huyện Tuy Phong, cách QL 1A 1 km. Trước 1975, nước
  10. 11. suối Vĩnh Hảo là một trong những sản phẩm nổi tiếng trên thị trường Đông Nam Á. Dòng suối Vĩnh Hảo được xem là linh thiêng đối với người Chăm xưa. Năm 1301, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông cùng đòan Chiêm Quốc du ngoạn, ông đã từng hứa gả con gái là Huyền Trân Công Chúa cho vua Chế Mân. Tháng 6/1306, Chế Mân dâng 2 Châu Ô và Lý để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Trong thời gian sống ở Chiêm Quốc, Huyền Trân và Chế Mân thướng đi thưởng ngoạn ở dòng suối này. Do thấy phong cảnh hữu tình và dòng suối đẹp nên Huyền Trân đặt tên là Vĩnh Hảo để nói lên sự giao hảo bền chặt giữa hai nước Việt-Chăm. Năm 1928 được người Pháp khai thác gọi là Vichy giống như loại nước khoáng nổi tiếng bay giờ của Pháp. Nước suối Vĩnh Hảo được chính thức nghiên cứu năm 1945. Nước suối Vĩnh Hảo thực sự lớn mạnh khi trở thành một công ty cổ phần tài chính Sài Gòn hợp tác với công ty nước giải khát Tribeco với vốn ban đầu là 10 tỉ đồng. Bãi biển Cà Ná: Bãi biển Cà Ná nằm sát bờ biển. Cà Ná có vị trí thuận lợi cho việc tham quan, chúng ta có thể dừng chân tại Cà Ná thưởng thức cảnh đẹp và nghỉ ngơi để tiếp tục cho cuộc du ngoạn. Cà Ná có không khí trong lành và cả những hoạt động rất phong phú. Nước mắm Phan Thiết: Nước mắm Phan Thiết từ lâu được xem là thứ nước chấm ngon. Đi dọc trên đường chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy những chiếc lu đựng nước mắm, thời gian càng lâu nước mắm càng ngon. Xưa kia nước mắm Phan Thiết được vẫn chuyển theo ghe bấu vào cung ứng cho thị trường Nam Bộ và đồng bào phía Nam. Ninh Thuận: Ninh Thuận có diện tích 3.427 km2, dân số khoảng 503.048 người. Tỉnh lỵ là thị xã Phan Rang- Tháp Chàm, bao gồm 4 huyện : Ninh Hải, Ninh Sơn, Ninh Phước, Bác Ai. Do có hệ thống đập Đa Nhiêm nên các vùng sản xuất chuyên canh nho, tỏi, bông vải … phát triển rất tốt. Ninh Thuận nằm trong vùng khô hạn nhất nước với hiện tượng gió nhiều mà khô nóng, không có mùa đông, nhiệt độ trung bình là 270C. Tuy nhiên, bờ biển Ninh Thuận lại là nơi thuận lợi cho khách nghỉ dưỡng và tắm mát. Có ưu thế về biển và di tích, lễ hội Chăm Pa hoành tráng, Ninh Thuận nằm trong cụm du lịch quốc gia thuộc tam giác Đà Lạt-Nha Trang-Phan Rang.. Tháp Chàm Ninh Thuận: Có ba tháp đặc biệt là tháp Pô Klông Garai, tháp Pô Rômê, tháp Hòa Lai. Tháp Pô Klông Garai nằm trên đồi Trâu thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâm thị xã 9 km, được xây dựng vào thời nhà vua Chế Mân, để thờ vua Pô Klông Garai-vị vua Chăm có nhiều công lớn trong lĩnh vực thủy lợi. Tháp này là một tổng thể gồm 3 tháp : tháp chính cao 20,5 m; tháp lửa cao 9,31 m; tháp cổng cao 8,56 m. Tháp đã được Bộ văn hóa công nhận là di tích lịch sử năm 1979. Tại đây vào dịp Tết Chăm, lễ hội Katê được tổ chức trọng thể vào ngày 1/7 Chăm lịch ( khoảng tháng 10 dương lịch ). Tháp Pô Rômê ở trên ngọn đồi cao thuộc thôn Hậu Sanh, cách thị xã 15 km, được xây vào khoảng thế kỷ 16. Tháp này được coi là bản sao không hoàn hảo của tháp Pô Klông Garai. Công trình này gồm 2 tháp : tháp chính thờ vua Pô Rômê, tháp phụ thờ hoàng hậu. Tháp Hòa Lai cách thị xã 14 km, thuộc thôn Ba Tháp, xã Tân Hải, huyệ Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, được xây vào những năm đầu thế kỷ 9. Là một tổng thể ba tháp nhưng do thời gian dài bỏ phế nên tháp trung tâm đã sụp đổ, chỉ còn lại 2 tháp là tháp Bắc và tháp Nam, nay đã được trùng tu và bảo vệ.
  11. 12. Thị xã Phan Rang: Dân số khoảng 80.000 người, nằm bên bờ sông Cái. Khu vực Phan Rang có nhiều người Chăm sinh sống. Phan Rang có nho là đặc sản nổi tiếng. Tại trung tâm thị xã có một ngả ba rẽ trái 110 km là đến Đà Lạt. Đồng bằng Phan Rang trù phú nhờ công trình đập thủy điện Đa Nhim. Thác Sakai và dịch vụ tắm ngâm nước khoáng nóng: Từ thị xã Phan Rang đi về hướng Tây Bắc khoảng 55 km chúng ta sẽ đến với Sa Kai ở huyện Ninh Sơn. Thác nằm ngay dưới chân đèo Ngoạn Mục và công trình nhà máy thủy điện Đa Nhim.Phong cảnh nơi đây còn hoang dã với những tảng đá lớn phản chiếu màu sắc cầu vồng ẩn hiện giữa rừng cây xanh bao la cùng thác nước đổ từ trên cao tung bọt trắng xóa. Dưới chân đèo Ngoạn Mục có dịch vụ du lịch tắm nước khoáng nóng do công ty sản xuất nước khoáng Mỹ Á tổ chức. Chúng ta có thể bơi lội, ngâm mình thư giãn bằng nước ấm tại những hồ nhỏ trang trí trong vườn cây kín đáo và râm mát. Nước khoáng này được dẫn ra từ trong rặng núi cao bằng hệ thống ống dài khoảng 6 km. Nước khoáng có tác dụng phục hồi sức khỏe, thư giãn thần kinh, kích thích tiêu hóa, chữa bệnh thấp khớp… Bên cạnh đó còn có những ngôi nhà sàn nhỏ cất bằng cây lá cạnh vườn hoa nhiều sắc hương thích hợp cho người có nhu cầu ở lại qua đêm. Làng du lịch Cà Ná: Làng du lịch Cà Ná nằm sát bờ biển, cách thị xã Phan Rang 32 km, cách thành phố PhanThiết 114 km. Làng du lịch Cà Ná lưng dựa vào núi, mặt quay ra biển rất thuận tiện cho du khách đi đường bộ và đường sắt. Với không khí trong lành, mát mẻ, du khách ngồi xe ngựa tới các thắng cảnh của Cà Ná, Mũi Dinh, những hang động : hang Ông Phật, ghềnh Ông Nồng, giếng Đục, núi Bạc. Khách có thể tham gia môn thể thao leo núi hoặc vào rừng dạo chơi, tắm biển, đi canô trên mặt biển ngắm nhìn trời mây, nước xanh và quang cảnh núi rừng. Làng du lịch với những ngôi nhà nho nhỏ đủ tiện nghi cho 2 hoặc 4 người nghỉ lại đã mọc lên sát biển tạo thành 1 làng du lịch Cà Ná. Khu du lịch Vĩnh Hy: Vĩnh Hy thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Vĩnh Hy được ví như nơi nối rừng với biển. Nơi đây có làng chài Vĩnh Hy, cạnh đó là ốc đảo Vĩnh Hy quyến rũ bởi địa thế hiểm trở, một mặt là biển và 3 bề rừng núi bạt ngàn. Khởi hành từ thị xã Phan Rang theo tỉnh lộ 702, du khách sẽ luồn qua những cung đèo xuyên rừng mai và khộp lá vàng, đặc trưng cho khí hậu khô nóng miền cực Nam.Đâu đó 1 làng chài ẩn hiện, xóa tan sự tĩnh mịch của núi rừng. Du khách có thể thám hiểm vịnh Vĩnh Hy với 1 chiếc thuyền nhẹ, chở được 4 người. Chèo thuyền mang theo vách núi ăn ra sát biển, khách sẽ thăm thú được toàn bộ vịnh. Giữa làn nước trong xanh tĩnh lặng, từng đàn cá cơm bạo dạn bơi lội quanh thuyền. Xa xa về phía Nam là những đồi cát chạy dài, ôm cong bờ biển. Sau khi thám hiểm du khách có thể thả mình trong bãi tắm hoang sơ, vắng vẻ hoặc vào làng chài tìm hiểu sinh hoạt người dân với những nghề làm mắm, hấp cá và cùng ngư dân kéo lưới, thưởng thức các đặc sản biển. Rời vịnh, vượt qua 1 cây cầu treo và sau 15 phút đi bộ, khách sẽ gặp khu bảo tồn thiên nhiên Núi Chúa. Chuyến du khảo thú vị sẽ đưa du khách đến với làn nước mát lạnh của suối Lồ Ô, bắt nguồn từ những dòng nhỏ, luồn lách trong các khe rừng rồi chụm lại đây. Hai bên suối là các phiến đá bằng phẳng, được che mát bởi những tán cổ thụ rậm rạp. Vào những ngày quang đãng, ánh sáng mặt trời bị khúc xạ bởi bọt nước trong không trung tạo nên cầu vồng rất kỳ thú. Dân tộc Chăm: Người Chăm còn có tên gọi là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành… Người Chăm có dân số 98.971
  12. 13. người thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo. Vương quốc Chămpa tồn tại từ thế kỷ II đến đầu thế kỷ XVII. Lãnh thổ kéo dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận, số còn lại cư trú ở An Giang, Phú Yên, TP.HCM, Bình Định, Tây Ninh. Vào thế kỷ XV sau những lần giao tranh với Đại Việt thất bại, một số người đã chạy sang Campuchia. Đến thế kỷ XVII họ lại trở về. Vào những năm 1940 do chiến tranh họ lại di chuyển lên sống và định cư ở TP.HCM. Dân tộc Chăm có hai bộ phận Cau và Dừa, giữa hai bộ phận này thường xảy ra tranh chấp cho đến thế kỷ II sau công nguyên, Khu Liên chống lại nhà Hán lập ra Lâm Ấp, sau đó cháu là Phạm Phật đã thống nhất hai bộ phận này và lập ra nước Chămpa. Kinh đô của nước Chămpa lúc đó là Trà Kiệu cách Đà Nẵng 70 km về phía Tây Nam mà sử gọi là Sinhapura (thành phố sư tử) nằm bên bờ sông Thu Bồn nay thuộc xã Duy Sơn. Từ thế kỷ IX kinh đô được chuyển ra phía Bắc tại làng Đồng Dương nằm bên bờ sông Ly Ly, là một nhánh sông Thu Bồn, cách cố đô Trà Kiệu 25 km về phía Nam có tên là Indrapura, vương triều này còn gọi là vương triều Phật Giáo vì trong giai đoạn này Phật Giáo phát triển thành quốc giáo lấn áp cả Ấn Giáo. Đồng Dương là nơi tập hợp đền chùa, cung điện chứ không tách ra như vương triều trước.Vào cuối thế kỷ X, kinh đô Đồng Dương bị tấn công nhiều lần nên vào những năm 1000 thì dời về Đồ Bàn với trung tâm được đánh dấu là tháp Cánh Tiên. Làng của người Chăm gọi là Plây, xung quanh không có cây cối hoặc chỉ có vài cây me vì họ cho rằng ma quỷ trú ngụ trên những cây to. Nhà được xây dựng dựng về hướng Nam. Một gia đình sống trong khuôn viên có hàng rào bằng cây khô. Người Chăm sống theo chế độ mẫu hệ. Mỗi gia đình có những ngôi nhà xây cất gần nhau theo một trật tự gồm : một căn nhà lớn cho cả nhà gọi là Thang Yơ, đến khi con gái lớn lấy chồng thì mọi người nhường căn nhà đó cho cô và cất căn nhà khác bên cạnh gọi là Thang Mưyân. Khi cô con gái thứ hai lấy chồng cô cả phải ra ở cạnh để nhường cho cô em. Cô con gái út được hưởng nhà đó và có nhiệm vụ giữ Chick Atâu-là một cái giỏ tre đựng đồ quý của gia đình để cúng giỗ gia đình. Người Chăm ăn cơm gạo được nấu trong nồi đất. Thức ăn gồm thịt, cá, rau củ do săn bắt, hái lượm, chăn nuôi. Ngưởi Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận ăn bằng đũa. Người Chăm theo đạo Hồi không ăn thịt bò vì bò là vật linh thiêng. Họ cũng không ăn heo vì heo là con vật dơ bẩn. Họ có món canh Vabai nấu bằng là rừng trộn thịt, bột gạo rồi khuấy đều. Món cháo chua, bánh nhân chuối. Thức uống có rượu cần, rượu gạo. Nói đến người Chăm không thể không nói đến tháp Chàm. Kỹ thuật để xây dựng tháp Chàm ngày nay vẫn còn là một dấu chấm hỏi lớn đối với các nhà nghiên cứu. Tháp được làm bằng gạch Chăm, gạch có kích thước khoảng 31cmx 17cmx 5cm. Chúng được xếp chồng khít lên nhau mà chúng ta không thể nào nhìn thấy những mạch hồ. Thế tại sao nó có thể đứng được ? Có người cho rằng người Chăm xây tháp bằng gạch mộc gọt lên đó rồi nung khối tháp trong một ngọn lửa khổng lồ. Giả thuyết này không có sức thuyết phục vì gạch mộc thì làm sao chịu được sức nặng của ngôi tháp và khi nung thì làm sao những viên gạch ở những bức tường dày 1-1,5 m ấy lại có độ nung chín đều như những viên gạch trong lẫn ngoài như thế. Lại có người cho rằng người Chăm dùng một thứ nhựa thực vật để làm hồ dán những viên gạch lại với nhau. Có người cho rằng đó là mủ cây xương rồng trộng với mật đường nhưng lại có người cho rằng đó là dầu rái để gằn những viên gạch lại với nhau. Sự tinh tế của các tháp Chàm còn thề hiện ở vô số hình chạm khắc tỉ mỉ, trau chuốt cho nghệ thuật đục đẽo trực tiếp lên tường tháp sau khi tường tháp đã được xây. Tháp thường có ba tầng, càgn lên cao càng thu hẹp lại, mỗi tầng mô phỏng lại vòm cuốn của cửa chính và cửa giả. Ở góc mỗi tầng tháp đều có hình tháp thu nhỏ và rất nhiều vật trang trí phụ bằng sa thạch thể hiện hình tiên nữ Apsara, chim thần Garuda, bò thần Nandin… Tất cả những chủ đề trang trí đều được thể hiện bên ngoài tháp, tường trong tháp bao giờ cũng để trơn. Trên chóp tháp là một khối đá nhọn đặt ngay giữa đỉnh.
  13. 14. Khánh Hòa: Khánh Hòa là nơi có nền văn hóa và lịch sử lâu đời. Cách đây hàng ngàn năm, con người đã sinh sống tại đây. Trống đồng Nha Trang đã xuất hiện từ 2000 năm trước. Trên mảnh đất này có nhiều người Chăm sinh sống. Hệ thống giáo dục ở Khánh Hòa khá phát triển với trên 20 cơ quan lưu giữ hiện vật và nghiên cứu về biển lớn nhất Đông Nam Á với trên 11.000 tiêu bản về hải sản. Vịnh Cam Ranh: Là một vịnh nhỏ ở cực Nam của tỉnh Khánh Hòa. Vịnh được xếp là 1 trong 3 hải cảng thiên nhiên tốt nhất thế giới cùng với cảng San Francisco và Rio De Janeiro. Vịnh rộng 6000 ha bề ngang và dài 6 km. Với diện tích đó vịnh Cam Ranh cho phép nhiều tàu bè cập bến cùng một lúc. Trước năm 1975, Mỹ huấn luyện cá heo để tuần du. Hiện vịnh Cam Ranh chia làm hai khu vực chính trị và kinh tế. Vịnh Cam Ranh còn là nơi để du khách có thể đến ngắm cảnh hay đi bộ trên những đồi cát trắng mịn. Khu du lịch Suối Tiên: Là dòng suối đẹp với nhiều cảnh lạ huyền bí nằm ở phía Nam huyện Diên Khánh. Tới đây chúng ta có thể dừng chân ở một đoạn đường có một dãy đá chắn ngang dòng suối tạo thành một đập đá tự nhiên. Dưới chân đập đá có vùng nước xói thành lòng chảo sâu và rộng gọi là Hồ Tiên. Gọi là Hồ Tiên vì truyền rằng Tiên thường tắm ở đây xưa kia. Nước hồ trong vắt có thể nhìn thấy đáy hồ cát trắng mịn. Theo bờ suối ngược lên những tảng đá nhỏ nằm ngổn ngang khắp suối, đá muôn hình với màu sắc khác nhau. Hai bờ suối cây cối mọc chen trong đá nghiêng mình xuống dòng suối mát rượi. Trong lòng suối hoặc trên bờ suối có nhiều tảng đá rộng lớn và bằng phẳng nửa nằm dưới nước nửa nằm trên bờ có dấu chữ điền, chữ khẩu, nét đá mờ rêu phong. Người địa phương gọi là bàn thờ Tiên. Lên trên nữa là rất nhiều thác đá và hồ nước nhỏ, đá chất chồng thành hang gọi là hang Tiên. Ngã ba Đồng Đế: Trước 1975 nơi đây là nơi huấn luyện hạ sĩ qua Đồng Đế. Hiện nay là doanh trại nhân dân Việt Nam. Đèo Rù Rì: Đèo dài 3 km, tên gọi Rù Rì vì khi gió thổi qua đèo cây cối lao xao tạo nên âm thanh rù rì và đó cũng là cách lý giải cho địa danh mang tên Rù Rì. Bãi biển Đại Lãnh: Nằm giữa hai đèo Cổ Mã và đèo Cả. Đây là một trong những bãi tắm đẹp nhất Việt Nam với những bãi cát trắng mịn. Bãi biển rộng và dài, nước biển luôn xanh một màu ngọc bích. Đặc biệt giữa khu vực bãi tắm có một nguồn nước ngọt chảy ra từ chân núi hòa vào biển cả, nước quanh năm mát lạnh và tinh khiết. Đại Lãnh từ xưa đã được liệt vào danh lam thắng cảnh của nước ta và minh chứng cho điều đó là hình ảnh Đại Lãnh trên một số Cửu Đỉnh của Minh Mạng. Đèo Cả: Là tên của dãy núi cao thuộc hệ thống Trường Sơn Đông có sườn phía Đông, dốc đứng và tiếp xúc trực tiếp với biển Đông. Đèo dài 12 km, cao 250 m so với mực nước biển. Đèo là ranh giới tự nhiên của hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Đèo có cấu trúc địa chất khá điển hình đó là một phức hệ đá xâm nhập bao gồm hầu như độc nhất một loại đá Granit. Vũng Rô: Là một cảng biển rộng, nơi sâu nhất có thể lên đến 15-16 m. Vũng Rô được chắn bởi núi Đá Bia hùng vĩ. Trước năm 1975, đây là cảng quân sự chiến lược đảm bảo cho việc tiếp tế hậu cần cho các căn cứ quân sự Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ngoài ra Vũng Rô còn là một bến cảng tiếp nhận vũ khí đạn dược và các phương tiện chiến đấu từ Bắc gửi vào chi viện cho chiến trường quân khu 5, được chuyên chở bằng những con tàu không số. Hiện tại Vũng Rô
  14. 15. còn xác một con tàu không số từ miền Bắc vào bị lộ. Các chiến sĩ đã tranh thủ bốc dỡ hàng hóa và đặt mìn đánh đắm tàu. Núi Đá Bia: Trên đỉnh đèo Cả có núi Đá Bia hay còn gọi là Thạch Bi Sơn cao 706 m. Năm 1471 sau khi thân chinh đem quân đánh đuổi Chiêm Thành về phía Nam, vua Lê Thánh Tông đã đặt chân đến Đèo Cả và cho khắc lên đỉnh Thạch Bi Sơn một bài thơ ghi lại chiến tích và làm ranh giới cho hai nước Việt-Chiêm. Tuy nhiên cho đến ngày nay ngươì ta vẫn chưa tìm được dấu vết của bài thơ trên ngọn Bi Sơn. Thuyết Minh Theo Tuyến Từ Nha Trang -> Đà Lạt Huyện Ninh Sơn Là vùng sâu của tỉnh Ninh thuận, cách thị xã Phan Rang 37 km. Dân số : 74900 người, gồm 8 xã miền núi và 6 xã đồng bằng. Đa số người dân sinh sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và một số làm nghề thủ công. Đa số người dân ở đây là người Chăm. Đèo Sông Pha: Nơi đây trồng rất nhiều cây nho, cây thuốc lá và cây bông vải, một vai nơi còn trồng mía. Cây nho: trồng theo kiểu dây leo, trên giàn. Đầu tiên người ta làm giàn bằng gỗ cao khoảng 1,6 -> 1,8 m (tính nếu làm 1 giàn nho thì phải phá 4 ha rừng, chính điều này đã gay nạn phá rừng tràn lan). Những nhánh nho được trồng cho bám lên giàn, khoảng 18 tháng nho sẽ được thu hoạch, hái trái. Tuổi thọ của nho khoảng từ 7- >10 năm, 1 năm có 3 mùa thu họach, trung bình 2,5 tấn/mùa/năm. Trung bình 1 ha nho lợi nhuận gấp 10 lần trồng lúa. Hiện nay liên doanh với Anh sản xuất rượu nho Thiên Thai. Diện tích trồng nho ở Phan Rang là 1350 ha. Và đang được nghiên cứu để có giống nho không hạt. Nhưng hiện nay rượu nho Việt Nam không được ưa chuộng vì nho không ngọt và có rất nhiều hạt làm cho chất lượng rượu nho giảm có vị chát vị chua … Cây bông vải : Vào năm 1941-1945 được trồng thử nghiệm ở Phan Rang nhưng hiệu quả kém. Năm 1954 nhập giống cây bông từ Hoa Kỳ. Năm 1970-1973 lại cho nhập giống bông từ trung tâm khảo cứu châu Phi, thuộc viện khảo cứu bông vải I.R.C.T nhằm cung cấp sợi bông cho các nhà máy dệt nhuộm. Cây bông vải thuộc cây đa niên, nếu đốn gốc mùa sau sẽ mọc lại nhưng dễ bị sâu bệnh, năng suất thấp. Chu kỳ sinh trưởng cây bông vải gồm 5 giai đoạn : giai đoạn mọc mầm, cây non tăng trưởng, trổ hoa, đậu trái, trái chín. Thời gian từ lúc trông cho đến khi trái chín và cho bông trung bình 178 ngày. Sau đó đốn bỏ cây và thường trồng xen canh với các loại cây khác như đậu nành, đậu phộng, đa số là những cây ngắn ngày. Xã Mỹ Sơn: Tới cầu Sông Cay (sông Dinh nhưng đoạn này người ta gọi là sông cay ). Nơi đây chúng ta sẽ thấy núi Trầm Ngân. Suối nước nóng Mỹ ÁSuối nước nóng Mỹ Á thuộc xã Ninh Tân, huyện Ninh Sơn, Ninh Thuận nằm cạnh quốc lộ 27. Nay có nhà máy khai thác và chế biến suôi nước nóng Mỹ Á. Nguồn nước khoáng này là mạch ngầm khai thác tự nhiên. Thị trấn Sông Pha: Nơi tập trung dân cư khá đông nằm dưới chân đèo Sông Pha, có nhiều hàng quán. Tập trung đông là do trước đây lên Đà Lạt qua đèo Ngoạn Mục khó khăn và phải chờ thời gian thích hợp ( do đuờng hẹp chỉ lên xuống 1 lượt nên nơi này thường là nơi nghỉ qua đêm của khách đi xe đò). Thứ hai là gần đây là nhà máy điện Đa Nhim nên công nhân làm việc xây dựng công trình này cũng góp phần làm cho thị trấn đông đúc hơn. Nhà máy thủy điện Sông Pha: Xây dựng năm 1992, có công suất nhỏ, phục vụ cho tiêu dùng địa phương.
  15. 16. Nhà máy thủy điện Đa Nhim: Nước xả của Đa Nhim là nguồn cung cấp nước cho Sông Pha. Ngoài ra nuớc thoát từ nhà máy thủy điện dùng nuớc tưới tiêu cho hơn 23.800 ha lúa khô cằn của Phan Rang. Hệ thống thủy điện Đa Nhim: Sông Đa Nhim tiếng dân địa phương có nghĩa là nước mắt, bắt nguồn từ huyền thoại LangBiang, với lưu lượng nước phong phú, lại nằm trên triền núi thẳng đứng. Do đó có nhiều dự án của những nhà máy thủy điện tên tuổi về vị trí thiên nhiên hiếm có này. Ngày 13/5/1959 thực hiện thỏa ước bồi thường chiến tranh Nhật-Việt, hai chính phủ đã dùng kinh phí này vào việc thiết lập hệ thống thủy điện Đa Nhim, gồm 39 triệu đôla và thêm 7,5 triệu đôla vay thêm. Hệ thống thủy điện Đa Nhim được thiết lập do 1 dự án dung hòa của hãng Sofréah (Pháp) và hãng Nippon Koei (Nhật) với mục đích đưa nước sông Đa Nhim từ Đơn Dương về Sông Pha qua hệ thống ống tạo thành nước cao 800 m. Sức mạnh lưu lượng nước này làm động lực quay những tuabin của nhà máy phát điện Đa Nhim. o Hệ thống gồm 5 công trình: Một hồ chứa nước nhân tạo Đơn Dương (bằng cách đắp 1 đập dài 1.460 m chắn nang dòng sông Đa Nhim) điều hòa lưu lượng nước cần thiết dùng cho nhà máy Sông Pha suốt năm (rộng 10 km2, chứa 160 triệu m3 nước). Đường hầm dẫn nước dài 5 km xuyên qua núi, dưới dãy đèo Ngoạn Mục và 2 ống thủy áp dài 2.340 m cuối đường hầm để đưa nước từ hồ Đa Nhim về đến nhà máy Sông Pha. Nhà máy thủy điện tại Sông Pha chạy bằng máy tuabin Pelton do động lực từ sức nước của đường thủy áp. Một đường dẫn điện cao thế 230 KV từ nhà máy Sông Pha về nhà máy biền điện Thủ Đức. Nhà máy biền điện Thủ Đức hạ thấp điện thế từ 230 KV xuống còn 6,6 KV và vành đai trung thế cung cấp điện cho thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác. Ngoài việc sản xuất tổng công suất 160.000 KV điện và số nước dùng để chạy máy thoát ra, được đưa vào hệ thống dẫn nước tưới cánh đồng Phan Rang 23.800 ha. Hệ thống thủy điện Đa Nhim còn tạo cho Đơn Dương một hồ chứa nước tuyệt đẹp. Hồ Đa Nhim cách Đà Lạt 50 km về phía Đông Bắc là một thắng cảnh thơ mộng với những đồi thông vi vu soi bóng nước, một nơi lý tưởng để săn bắn và câu cá. Đèo Sông Pha: Đèo nhỏ, dài khoảng 1 km. Nơi tập trung dân cư khá đông nằm dưới chân đèo Sông Pha, có nhiều hàng quán, khu vực này tâp trung đông là do trước đây lên Đà Lạt qua đèo Ngoạn Mục khó khăn, phải chờ thời gian thích hợp nên nơi đây tập trung rất nhiều các xe khách. Chúng ta sẽ thấy đèo Ngoạn Mục. Đèo Ngoạn Mục: Hay còn gọi là đèo Krông Pha. Đây là con đèo tuyệt đẹp nằm trên đồi cao 980 m, dài khoảng 18 km, con đường quanh co gấp khúc liên tục; lên độ cao 400m là ranh giới tự nhiên giữa Ninh Thuận và Lâm Đồng. Đây là đèo dài nhất và nguy hiểm nhất trên cung đường từ Phan Rang lên Đà Lạt, với nhiều khúc quanh nguy hiểm. Lên đèo Ngoạn Mục, khí hậu thay đổi là do sự chênh lệch địa hình giữa hai vùng khoảng 1000m. Khi lên đèo Ngoạn Mục ta thấy hai đường ống lớn nằm vắt ngang qua núi, đó là hệ thống đường ống dẫn nước của nhà máy thủy điện Đa Nhim, dẫn nước từ hồ Đa Nhim-Lâm Đồng xuống nhà máy thủy điện Đa Nhim-Ninh Thuận nằm dưới chân đèo Ngoạn Mục. Đi hết đèo Ngoạn Mục ta đến tỉnh Lâm Đồng.
  16. 17. Thuyết Minh Theo Tuyến Từ Đà Lạt->TP.HCM Đèo Prenn: Đỉnh đèo Prenn ở độ cao 1500 m so với mực nước biển, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 10 km. Đây là ngọn đèo cuối cùng trên quốc lộ 20 đưa du khách đến viếng thăm Đà Lạt. Ở đây chúng ta thấy những gốc thông già cả trăm tuổi, đồi núi chập chùng, khí hậu mát mẻ tạo cho du khách cảm giác thoải mái, thư thái. Ngay dưới chân đèo Prenn là thác Prenn mà gốc tiếng Chăm có ý nghĩa xa xưa là vùng xâm chiếm. Nguyên trước đây nhiều thế kỷ, người Chăm ở Ninh Thuận luôn có những cuộc giao tranh dai dẳng với các dân tộc ít người ở Lâm Đồng. Prenn là ranh giới giao tranh và nhận định ( từ Đơn Dương, Phan Rang ) là của người Chăm và từ Prenn trở lên là của người K’Ho, Mạ. Hiện nay nhiều làng ở vùng Đơn Dương vẫn còn mang ảnh hưởng của người Chăm từ đó. Thác cao 15 m từ trên các tảng đá đổ xuống và từ dưới trônglên cứ như từ trên trời đổ xuống nên người Sài Gòn gọi là thác Thiên Sa (những giọt châu sa từ trên trời rơi xuống). Từ năm 1998 đến nay, thác Prenn được cơ quan chủ quản là công ty du lịch Lâm Đồng và nay là công ty dịch vụ du lịch Đà Lạt đầu tư mạnh nên đang là điểm thu hút du khách của du lịch Lâm Đồng. Trong khuôn viên thác có cầu treo dân tộc, có hồ nuôi cá sấu, có một ít thú. Quý khách đến đây có thể thưởng thức được món đặc sản là cháo cá lóc, món ăn này được xếp vào loại nhất nhì Đà Lạt. Cá được róc bỏ xương, ăn với bồ tạt tạo cho du khách một cảm giác khó quean. Chỉ 100.000 đồng, một nhóm du khách khoảng 4-6 người đã có thể dùng bữa cháo thay cơm trưa, bên dòng thác chảy róc rách rất lý tưởng và tuyệt vời. Thác Pongour: Tại Di Linh-Đức Trọng có một ngọn thác cao, hùng vĩ đầy chất hoang vu, một ngọn thác vào loại đẹp nhất của tỉnh Lâm Đồng, đó là thác Pongour. Thác Pongour cách Đà Lạt 45 km, là ngọn thác đẹp nhất và hùng vĩ nhất của vùng Tây Nguyên, với chiều cao 20 m, bề mặt thác dài hàng trăm mét và một thềm thác rộng hàng chục ha có thể tổ chức vui chơi cho hàng ngàn người một lúc. Các nhà du lịch đã không ngần ngại đặt cho Pongour biệt hiệu “Nam phương đệ nhất thác”. Trong những năm 80 , tác giả Nguyễn Nhật Hồng đã tới thăm và sưu tầm về truyền thuyết của thác Pongour. Ông đã viết bài thơ bằng tiếng dân tộc K’ho và khắc lên tảng đá sừng tê giác đầu tiên, tạm dịch như sau : Ngày xưa đẹp lắm nàng Kanai, Cũng là Trưng Triệu bậc anh tài Diệt lũ tham tàn cứu dân khổ Vì đời lại dựng cõi thiên thai. Thác Pongour được gọi là thác Thiên Thai có lẽ là sau những năm 80 ấy. Thác Dambri: Thác Dambri cách trung tâm thị xã Bảo Lộc 18 km về hướng Tây. Thác cao 90 m, là một thác hùng vĩ và nguy nga mà khách có thể dễ dàng đến thăm. Cảnh quan thiên nhiên đẹp, không khí trong lành. Năm 1992 đã được Liên hiệp Dâu tằm tơ đầu tư hàng chục tỷ đồng làm đường ngựa vào thác. Xung quanh hai bên đường là những đồi dâu bạt ngàn xanh tốt, những đồi cà phê, chè. Thị trấn Bảo Lộc: Một địa danh nổi tiếng với những đồi chè, cà phê bạt ngàn, có thác Dambri hùng vĩ và những giai thoại. Ngành trồng cà phê tại Bảo Lộc : sau khi Pháp chiếm Việt Nam, để khai thác thuộc địa người Pháp đã trồng nhiều loại nông sản được ưa chuộng như cao su, cà phê, chè, vani … Cây cà phê chính thức du nhập vào Việt
  17. 18. Nam năm 1890. Cuối thế kỷ 19 cây cà phê được trồng thử nghiệm tại Nam Bộ nhưng không đạt hiệu quả nên đã bị đốn bỏ. Đầu thế kỷ 20 vùng Gia Định có khoảng 150.000 cây cà phê, nhiều nhất là vùng Hạnh Thông Tây và Thủ Đức. Khoảng năm 1920 trồng thử nghiệm tại Plâyku, Kontum cho kết quả ban đầu khả quan. Năm 1927 chính quyền thực dân hô hào trồng cà phê Arabica ở vùng Tây Nguyên. Đến năm 1946 vùng Tây Nguyên có 3000 ha cà phê. Năm 1948 giống Arabica bị tàn phá nặng nề do mọt cà phê. Các nhà nghiên cứu chuyển sang trồng loại Rubusta và cà phê Chari. Năm 1980 cà phê mới được trồng nhiều tại Đà Lạt. Ngành trồng trà tại Bảo Lộc : tỉnh Lâm Đồng là một vùng quan trọng ngay từ thời Pháp thuộc. Năm 1930 một trung tâm nghiên cứu nông học được lập ở Bảo Lộc để nghiên cứu các giống trà phục vụ cho việc phát triển các đồn trà. Cho đến 1954, ngành trồng trà nằm trong tay Pháp với đồn điền rộng lớn. Năm 1954 nhiều người từ miền Bắc di cư vào miền nam được định cư ở Bảo Lộc và Di Linh. Họ cũng lập những vườn trà quy mô nhỏ, có tính cách gia đình bên cạnh những đồn điền lớn của các công ty xí nghiệp liên doanh. Diện tích trồng chè ở nước ta hiện nay là 160.000 ha, riêng Lâm Đồng 16.000 ha và Bảo Lộc 10.000 ha, năng suất 18- 20 tấn lá/năm/ha. Giai thoại : xưa kia có một vị Đại Đức đang ngồi nghe Đức Phật thuyết pháp thì ngủ gục vì quá meat mỏi, khi giật mình tỉnh dậy ông rất giận mình nên cắt hai mí mắt vứt ra ngoài sân. Ít lâu sau chỗ đó mọc lên một thứ cây lạ, lá có hình dáng giống như chiếc mi mắt, người ta nhai lá này thì có vị chát, pha với nước uống thì tỉnh táo hẳn bớt buồn ngủ. Đèo Bảo Lộc: Nằm trên tuyến đường quốc lộ 20 với chiều dài 10 km. Lên đến đỉnh đèo chúng ta đang ở độ cao 800 – 850 m so với mực nước biển. Với đường quanh co, khung cảnh hùng vĩ của núi rừng và khí hậu mát mẻ của vùng cao nguyên chắc rằng du khách sẽ cảm thấy thoải mái nhẹ nhõm, cảnh thiên nhiên hùng vĩ đó là bức tranh hoàn mỹ, một thắng cảnh nổi tiếng của Bảo Lộc. Bên cạnh bức tranh thiên nhiên ấy, quý khách còn thấy ở nơi đây có miếu thờ Tam Cô và tương Đức Mẹ. Theo câu chuyện được truyền miệng, miếu thờ Tam Cô rất linh thiêng. Các lái xe tuyến đường này kể lại, vào những lúc sương mù hay trời tối, họ thường thấy bóng dáng của ba cô gái đứng trên đường, hướng dẫn cho xe của họ đi đúng hướng, tránh xảy ra những tai nạn thương tâm, đáng tiếc. Chính vì những tình tiết như vậy mà để cho linh hồn quá cố được ấm với những nén nhang của người đi đường, họ đã dựng miếu thờ những cô gái xấu số đó. Về sau những đóng góp của những người từ tâm, miếu Tam Cô được xây dựng khang trang như ngày nay. Sát cạnh miếu thờ Tam Cô, bên dòng suối nhỏ là tượng Đức Mẹ Maria với đôi mắt dịu hiền được giáo dân xứ An Bình đóng góp xây dựng nên, xuất phát từ tín ngưỡng tôn giáo và sự tôn thờ Đức Mẹ, luôn ban ơn lành, hạnh phúc cho mọi người, luôn mở rộng vòng tay đón nhận những kẻ bất hạnh. Họ đã dựng nhữngtượng đài Đức Mẹ ngay cạnh đèo Bảo Lộc là để cầu sự an lành cho những người đi đường. Khu du lịch Suối Tiên: Suối Tiên bắt nguồn từ núi San-Say giáp tỉnh Bình Thuận, dài trên 10 km, là khu du lịch liên doanh giữa Saigon tourist và huyện Đa Hoài năm 1989. Suối Tiên là dòng suối rộng, trong xanh, chảy xiết với nhiều khối đá nổi lên trên lòng suối. Dòng suối này chảy qua vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh càng tạo phong cảnh hưu tình. Ở đây có thể tổ chức tour nghỉ ngơi, giải trí, cắm trại, tham quan rừng. Hiện nay có trồng thêm vườn lan và nuôi nhiều thú cho khách thưởng ngoạn. Tên gọi Suối Tiên với truyền thuyết như sau : Tương truyền từ xa xưa, ông trời nổi giận không cho mưa xuống, làm khắp buôn làng người Mạ âu sâu, lo lắng, trẻ con khóc thét đòi nước uống. Một gia đình nọ, vợ
  18. 19. sinh con đầu lòng nhưng thiếu sữa cho con bú, chồng liền cầm nỏ vào rừng tìm trái chua cho vợ con. Chàng đã vượt qua ba ngọn núi , bảy cánh rừng. Khi mặt trời lên cao, người thợ săn nhìn thấy một tổ ong, chàng vươn cung lên bắn, tên vừa chạm vào tổ ong thì một dòng nước bắn thẳng vào thợ săn, chàng trai hoảng sợ bỏ chạy, tức thì dòng nước chạy theo. Chàng chạy càng nhanh dòng nước chạy càng nhanh, chàng chạy mãi đến bên cánh rừng thì kiệt sức và thiếp đi thì dòng nước dừng lại và lan rộng, lan rộng mãi thành một vùng nước sâu. Nhờ dòng nước này mà buôn làng được cứu sống và tồn tại cho đến ngày nay. Theo quốc lộ 20 từ ranh giới tỉnh Lâm Đồng ta bắt gặp vùng cư trú của dân tộc Mạ ngay từ huyện Đa Hoài kéo dài đến Bảo Lộc. Dân tộc Mạ có khoảng 20000 người (1989). Các dân tộc bản địa ở Lâm Đồng chủ yếu sống bằng các hoạt động kinh tế nương rẫy là chủ yếu. Hàng năm vào trước mùa mưa, các buôn làng tổ chức đốt rẫy và đến khi cơn mưa đầu mùa vào khoảng tháng tư, họ bắt đầu tỉa lúa, ngoài ra họ còn xen kẻ trong lúa là trồng bắp, đậu … Khi đã đến mùa gặt thì họ phơi khô lúa, ngô để trong kho. Sinh hoạt kinh tế nương rẫy có từ lâu đời, ngoài ra họ còn có nghề săn bắt rất đặc biệt truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hầu hết các dân tộc ít người ở Lâm Đồng cư trú thành các Bon (Plei). Mỗi Bon có từ vài chục nóc nhà. Vùng Mạ tồn tại các ngôi nhà dài hàng chục mét. Ở người Mạ, chế độ phụ hệ đã được xác lập. Mỗi Bon đều có một người đứng đầu do sự tín nhiệm và đề cử của các thành viên cộng đồng. Những việc gieo trồng, chia đất, chiến tranh … phải do sự quyết định tập thể của cộng đồng. Người Mạ cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại một kho tàng dân gian tục ngữ khá đồ sộ nhất là những bản tình ca thật da diết, hồn nhiên. Vốn âm nhạc của dân tộc rất phong phú, đặc biệt là bộ cồng chiêng. Đêm đêm vào mùa lễ hội, sau khi đã thu hoạch xong một vụ lúa, người dân tổ chức ăn mừng lúa mới. Trong không gian hùng vĩ ấy của núi rừng, tiếng chiêng vang lên những âm điệu diệu kỳ như kêu gọi hướng về một tương lai của những ngày tươi đẹp. Âm nhạc là nhu cầu gửi gắm tâm tư nguyện vọng của dân tộc ít người. Chính ở vùng Mạ Bảo Lộc đã phát hiện được bộ đàn đá Bơrode (hiện lưu giữ tại Los Angeles) là một minh chứng cho trình độ âm nhạc độc đáo của các dân tộc ít người ở Lâm Đồng. Đèo Chuối: Dài 4 km, chạy giữa thung lũng của hai dãy núi cao. Trước đây vùng này mọc rất nhiều cây chuối hoang nên người ta thường gọi là Đèo Chuối. Lên đèo Chuối chúng ta đang ở độ cao 350 m so với mực nước biển. Cầu La Ngà: Được xây dựng năm 1985-1987, chiều dài 173,4 m; rộng 9,56 m, cầu được bắt qua sông La Ngà nổi tiếng với những chặng đánh lịch sử của quân và dân miền Nam trong thời gian chống đế quốc xâm lược. Hai bên cầu trên dòng nước phẳng lặng, chúng ta nhìn thấy những ngôi nhà bồng bềnh trên mặt nước đó là làng nuôi cá bè. Ban đầu chỉ có vài người ở miền Tây lên đây lập nghiệp và họ đã mang theo nghề nuôi cá bè đặc trưng ở miền Tây Nam bộ. Một công việc đã đem lại cho họ một cuộc sống ổn định hơn. Về sau có lẽ do dòng sông hiền hòa ấy thích hợp cho việc nuôi cá bè, từ đó kinh tế của họ đi lên. Chính vì vậy mà ngày càng tập trung nhiều người tại đây và đã từ từ hình thành nên một làng nuôi cá bè. Nhà máy đường La Ngà: Được xây dựng năm 1979-1984 do Đan Mạch viện trợ với công suất thiết kế 2000 tấn mía cây/ ngày, đạt 2 triệu tấn đường/năm. Phía sau nhà máy đường là một đồi trồng cây xanh rất đẹp, dân ở đây gọi là đồi du lịch, gần khu nhà ở của các chuyên gia nước ngoài làm việc tại nhà máy đường La Ngà. Sau đó mở thêm nhà máy kẹo, công suất 2,5 tấn/ ngày và nhà máy sản xuất phân Komix, các sản phẩm kẹo và phân Komix đạt tới 170 tỷ đồng ( nguyên liệu làm từ bả bùn trong sản xuất đường ). Ngoài ra còn liên doanh với Úc để sản xuất ra các loại men khô, men dùng trong thực phẩm với vốn đầu tư 4,5 triệu USD. Tổng số công nhân làm việc trong nhà máy La Ngà lên đến 2000 người. Vườn quốc gia Cát Tiên: Là một khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới, rừng nằm uốn khúc quanh sông Đồng Nai. Cát Tiên có phong cảnh tuyệt vời và đa dạng : vừa có đồi núi chập
  19. 20. chùng, các mảng tự nhiên rộng lớn bằng phẳng và những dòng chảy nhỏ. Vào mùa mưa các dòng chảy này đổ thành thác, nước ở đây trong veo, tuôn nhẹ nhàng qua các gờ đá, tạo thành con suối mát hiền hòa. Trên đoạn đường chính vào rừng du khách sẽ thấy phía bên tay trái là rừng già tập trung rất nhiều gỗ quý như gõ, bằng lăng, cẩm lai, gụ, trắc … Phía bên tay phải rừng là thác rời. Cách bìa rừng 7 km là vùng Bàu Sấu, làng Bàu Sấu chứa rất nhiều cá. Chính vì thế mà gà lôi, công trĩ, mồng két … tập trung rất đông. Vườn quốc gia Cát Tiên hầu như còn nguyên vẹn thảm thực vật và động vật phong phú. Ngoài ra trong khu vực này có cây gõ Ông Đồng 300 tuổi, cây thiên tuế bảy ngọn làm phong phú bộ sưu tập rừng. Vườn quốc gia Cát Tiên có thể xem là khu bảo tồn động vật lớn chất lượng vì có rất nhiều loại chim và thú hiếm, chính là rừng vàng của Nam bộ. Thủy điện Trị An: Là thác nước cuối cùng của sông Đồng Nai trước khi chảy vào đồng bằng. Vào mùa nước kiệt, trên một khoảng sông rộng nổi lên hàng trăm tảng đá đen lô nhô giống như bầy trâu đang đắm mình dưới sông. Vào mùa nước nhiều, nước sông đổ cuồn cuộn làm tung bọt trắng xóa trên một đoạn sông hàng trăm mét tạo nên khung cảnh thật hùng vĩ. Với sự giúp đỡ của Liên Xô và sự đóng góp của cả nước, công trình thủy điện đã ra đời sau thủy điện Hòa Bình trên sông Đà. Được khởi công xây dựng năm 1983, các tỉnh miền nam tiếp tế, các tỉnh miền Bắc gửi cán bộ giỏi, nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật. Phần đóng góp quan trọng nhất là tỉnh Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh gánh vác. Nhân dân 16 tỉnh thành phố miền Nam đóng góp trên 51 tỷ đồng, Liên Xô cũ cho vay 150 rúp và cung cấp máy móc thiết bị xây dựng công trình. Sau 5 năm lao động cật lực của cán bộ công nhân trên công trường xây dựng, tổ máy số 1,2 hoạt động vào năm 1988, đến năm 1989 cả 4 tổ máy được vẫn hành sản xuất điện. Đập chính chắn ngang và được xây dựng từ thượng nguồn của thác Trị An, tạo nên một hồ chứa nước rộng 232 km2 chứa gần 3 tỷ m3 nước. Nước từ hồ chính đưa qua hồ phụ rồi chảy sang nhà máy thủy điện làm quay bốn tổ máy cócông suất tổng cộng 400 MW, sản lượng điện hàng năm đạt tới 1,7 KW/h. Hồ Trị An là một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, một địa điểm hấp dẫn du khách. Bài Thuyết Minh Điểm (Tour Phan Rang – Nha Trang) Tỉnh Ninh Thuận Diện tích: 3.427 km2 Dân số: 483.400 người Tỉnh lỵ: Phan Rang Tỉnh Ninh Thuận bao gồm thị xã Phan Rang và ba huyện: Ninh Sơn, Ninh Hải và Ninh Phước. Ninh Thuận là 1 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, Bắc giáp Khánh Hòa, Tây giáp với Lâm Đồng, Nam giáp với Bình Thuận và Đông giáp biển Đông. Ninh Thuận được bao bọc bởi 3 mặt là núi: phía Bắc và Nam là 2 dãy núi nhô ra biển, phía Đông là vùng núi cao của tỉnh Lâm Đồng. Địa hình có 3 dạng : miền núi, đồng bằng, vùng ven biển. Nơi đây có hai hệ thống sông chính đó là : hệ thống sông Cái bao gồm các sông nhánh như sông Mê Lam, sông Sắt, sông Ông, sông La, sông Quao … và hệ thống các sông suối nhỏ phân bố ở phía Bắc và Nam của tỉnh như sông Trâu, sông Bà Râu. Ninh Thụân nằm trong vùng khô hạn nhất nước ta, khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng là khô nóng,
  20. 21. gió nhiều và bốc hơi mạnh, không có mùa đông. Nhiệt độ trung bình năm là 270C, lượng mưa trung bình 705 mm và tăng dần theo độ cao lên đến 1100 mm ở vùng miền núi. Một năm có 2 mùa : mùa mưa từ tháng 5 – >11 và mùa khô từ tháng 12 ->5 năm sau. Vì có khí hậu và vùng đất không được như những vùng khác trong nước nên Ninh Thuận có những vùng chuyên sản xuất chuyên canh như nho, thuốc lá, mía, đường, bông, tỏi, hành và nuôi trồng thủy sản vì nơi đây là vùng ven biển. Ninh Thuận là 1 bức tranh hài hòa giữa đồng bằng, đồi núi và biển cả.Nằm trong cụm du lịch quốc gia thuộc tam giác Đà Lạt-Nha Trang-Phan Rang. Ninh Thuận có vườn quốc gia Núi Chúa… Ninh Thuận là một tỉnh phía nam miền Trung Việt Nam. Đây là mảnh đất sinh sống của một số lượng lớn những người Chàm. Trong lịch sử, dân tộc Chàm đã từng là một quốc gia hùng mạnh và tại đây còn nhiều những di tích lịch sử và văn hóa của người Chàm cổ như Tháp Chàm, … Tất cả tạo nên một sức thu hút lớn cho du khách. Ninh Thuận nằm dọc theo bờ biển, chính điều này đã đem đến nhiều bãi biển đẹp và nguồn hải sản dồi dào tạo thế mạnh rất lớn cho việc phát triển kinh tế của Tỉnh. Nét hấp dẫn mới của miền Panduranga : Thời gian gần đây, miền Panduranga (Phan Rang, Ninh Thuận) được các hãng lữ hành xem như điểm đến mới, bởi ngành du lịch tỉnh đang tăng tốc đầu tư nhiều tuyến, điểm du lịch. Không chỉ có “cát và xương rồng”, ở đây còn có nhiều thứ đủ níu chân du khách. Nho xanh và thổ cẩm: Tạo hoá đã ban tặng vùng đất nắng gió này cái ưu thế thổ nhưỡng để có được những vườn nho bạt ngàn – loại đặc sản duy nhất được trồng đại trà ở đây. Hiện nay ngành nông nghiệp Ninh Thuận đã thực hiện chương trình cải cách nông nghiệp trồng nho theo định hướng sạch, phục hồi lại giống nho đỏ và trồng mới một số giống nho xanh. Làng dệt thổ cẩm truyền thống Mỹ Nghiệp (huyện Ninh Phước) khi được hãng lữ hành chọn là một điểm tham quan tìm hiểu văn hoá một làng nghề Chămpa tiêu biểu, các hộ dân trong làng đã nhanh chóng đưa ra các mặt hàng lưu niệm dệt thủ công tinh xảo, giá cả cũng tương đối rẻ như: cà vạt, ví đầm, áo gilê… Vĩnh Hy, Mỹ Á, Đen Giòn và những dự án lớn Vịnh Vĩnh Hy (cách thị xã Phan Rang 40km về phía Đông Bắc, thuộc huyện Ninh Hải, được xếp vào một trong bốn vịnh đẹp nhất Việt Nam cùng Hạ Long, Văn Phong và Cam Ranh) hiện được xem như một điểm du lịch khá mới mẻ và hấp dẫn ở Ninh Thuận. Saigontourist là đơn vị tiên phong đưa Vĩnh Hy vào chương trình du lịch liên tuyến: Ninh Chữ – Vĩnh Hy – Đà Lạt. Trong định hướng phát triển du lịch của tỉnh, vịnh Vĩnh Hy sẽ được quy hoạch thành điểm du lịch sinh thái biển có quy mô lớn, nơi sẽ tổ chức nhiều loại hình du lịch biển như: lướt ván, lặn biển, bơi thuyền. Trong khi đó, mới đón khách vào đầu năm nay là Đen Gòn – khu du lịch sinh thái tiêu biểu ở Ninh Thuận rộng 10ha, chạy dọc theo bờ biển Ninh Chữ với các bungalow và các nhà nghỉ liên kế vườn cây cảnh rất đẹp. Trên bờ biển Ninh Chữ còn có khu du lịch Hoàn cầu với công viên nước đầu tiên ở Ninh Thuận. Khu suối khoáng nóng Mỹ Á (hyện Ninh Sơn) cũng thu hút sự chú ý của khách du lịch. Từ thị xã Phan Rang theo quốc lộ 27 (đường đi Đà Lạt) chừng 30km, du khách sẽ đến với Mỹ Á để đắm mình thư giãn trong lòng nước ấm. Đi chừng 10km nữa du khách sẽ đến thuỷ điện sông Pha, chinh phục đèo Ngoạn Mục cảnh trí hùng vĩ, đẹp như tranh vẽ.
  21. 22. Tỉnh Ninh Thuận cũng đã phê duyệt dự án xây dựng khu Hòn Cò – Cà Ná thành một khu du lịch biển phức hợp có tầm cỡ quốc tế với kinh phí xây dựng 17 tỷ đồng, xây dựng khách sạn trung tâm tại thị xã Phan Rang đạt tiêu chuẩn quốc tế ba sao và nâng cấp các khách sạn đã có như Ninh Chữ, Ninh Thuận, Thống Nhất. Với những nỗ lực và định hướng phát triển du lich như vậy, giới kinh doanh du lịch đánh giá trong tương lai không xa du lịch Phan Rang – Ninh Thuận có thể sánh vai cùng hai đàn anh trong lĩnh vực du lịch ở miền Trung là Nha Trang – Khánh Hoà và Phan Thiết – Bình Thuận. Những kỷ luật của xứ sở xương rồng Bãi biển vào loại đẹp nhất nước: Bãi Cà Ná nước xanh biếc và bãi Ninh Chữ cát trắng trải dài, được đánh giá là hai trong số chín bãi biển đẹp nhất nước ta. * Vịnh đẹp nhất nước: đó là Vịnh Vĩnh Hy là một trong bốn vịnh đẹp nhất Việt Nam (cùng với các vịnh Hạ Long, Văn Phong và Cam Ranh), với làn nước trong xanh quanh vịnh là núi đá cheo leo và những bãi san hô tuyệt đẹp. * Vùng khô hạn nhất nước: lượng mưa trung bình hàng năm của Ninh Thuận chỉ 659mm (TP.HCM 1979mm). Do khí hậu này Ninh Thuận có khu bảo tồn thiên nhiên Núi Chúa rộng 24.353ha với hệ sinh thái rừng khô hạn đặc trưng hiếm thấy ở nước ta. * Tỉnh có đơn vị hành chánh cấp huyện ít nhất: Toàn tỉnh chỉ có một thị xã (Phan Rang-Tháp Chàm) và 4 huyện (Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn và Bác Ái). * Đồng bào Chăm đông nhất: Người Chăm ở Ninh Thuận ước 50.000 người, chiếm khoảng 50% dân số người Chăm trong toàn quốc. * Làng gốm cổ nhất Đông Dương: Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng Bàu Trúc là làng gốm cổ nhất ở Đông Dương vẫn giữ nguyên phương thức sản xuất hoàn toàn bằng tay. * Ruộng muối lớn nhất nước: Ruộng muối của Xí nghiệp Muối công nghiệp Cà Ná rộng gần 500 héc ta, sản lượng 55 đến 60 nghìn tấn/năm, là ruộng muối công nghiệp lớn nhất nước, hình thành từ năm 1927. * Đàn cừu lớn nhất nước: gồm trên 50.000 con * Nho nhiều nhất nước: Ninh Thuận có trên 1.500ha nho, gần đây có giống nho xanh trái lớn, chất lượng không thua kém nho vùng ôn đới. * Giống tỏi thơm ngon nhất: Tỏi Ninh Thuận tép nhỏ, nhưng rất thơm, nổi tiếng nhất là tỏi vùng Vân Sơn. * Những con đường gần nhau nhất: Có dịp đi ngang Cà Ná bạn sẽ thấy đường biển chỉ cách quốc lộ 1A khoảng 5m, quốc lộ 1A cách đường sắt cũng 5m, và đường sắt cách đường núi 5m. DÂN TỘC CHĂM Người Chăm còn có tên gọi là Chàm, Chiêm,¬Chiêm Thành… Người Chăm có dân số 98.971 người thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo
  22. 23. Vương quốc Chămpa tồn tại từ thế kỷ II đến đầu thế kỷ XVII. Lãnh thổ¬kéo dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận, số còn lại cư trú ở An Giang, Phú Yên, TP.HCM, Bình Định, Tây Ninh. Vào thế kỷ XV sau những lần giao tranh với Đại Việt thất bại, một số người đã chạy sang Campuchia. Đến thế kỷ XVII họ lại trở về. Vào những năm 1940 do chiến tranh họ lại di chuyển lên sống và định cư ở TP.HCM. Làng của người Chăm gọi là Plây, xung quanh không có cây cối¬hoặc chỉ có vài cây me vì họ cho rằng ma quỷ trú ngụ trên những cây to. Nhà được xây dựng dựng về hướng Nam. Một gia đình sống trong khuôn viên có hàng rào bằng cây khô. Người Chăm sống theo chế độ mẫu hệ. Mỗi gia đình có những ngôi nhà xây cất gần nhau theo một trật tự gồm : một căn nhà lớn cho cả nhà gọi là Thang Yơ, đến khi con gái lớn lấy chồng thì mọi người nhường căn nhà đó cho cô và cất căn nhà khác bên cạnh gọi là Thang Mưyân. Khi cô con gái thứ hai lấy chồng cô cả phải ra ở cạnh để nhường cho cô em. Cô con gái út được hưởng nhà đó và có nhiệm vụ giữ Chick Atâu – là một cái giỏ tre đựng đồ quý của gia đình để cúng giỗ gia đình. Người Chăm ăn cơm gạo được nấu trong nồi đất. Thức ăn gồm¬thịt, cá, rau củ do săn bắt, hái lượm, chăn nuôi. Ngưởi Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận ăn bằng đũa. Người Chăm theo đạo Hồi không ăn thịt bò vì bò là vật linh thiêng. Họ cũng không ăn heo vì heo là con vật dơ bẩn. Họ có món canh Vabai nấu bằng là rừng trộn thịt, bột gạo rồi khuấy đều. Món cháo chua, bánh nhân chuối. Thức uống có rượu cần, rượu gạo. SƠ NÉT LỊCH SỬ CHĂM Vương quốc Chămpa ra đời vào cuối thế kỷ thứ II (năm 192), gồm hai bộ phận: Chăm phía Nam (từ Phú Yên, Khánh Hòa trở vào) gọi là Nam Chăm, một bộ phận ở phía Bắc là tiểu quốc Lâm Ấp gọi là Bắc Chăm, hai bộ phận này thường xảy ra tranh chấp. Khoảng năm 349-361, Phạm Phật (phiên âm Hán Việt) có công thốbg nhất Bắc Nam Chăm lập ra vương quốc Chămpa, đây có thể là tên một loài hoa mà ta thường gọi là hoa Sứ-Michilia Champacca Lênaie. Phạm Phật có thể là ông vua Bhadravarman được biết đến đầu tiên trong các bia ký để lại. Vương triều Gangaragia: từ đầu thế kỷ thứ 6 đến năm 734. Đây là thời kỳ cực thịnh của vương quốc Chăm, trải qua chín đời vua và chịu ảnh hưởng rất lớn của Ấn Độ Giáo, văn hóa Ấn Độ. Kinh đô lúc này là Trà Kiệu (gọi là thành Sư Tử) Sinhapura thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam và cách Thánh Địa Mỹ Sơn 28 km về phía Tây. Vương triều Panduranga : từ 734 đến giữa thế kỷ 9, lúc này Bắc Chăm có nhiều biến động nên trung tâm Chămpa chuyển vào Khánh Hòa, có 6 đời vua. Vương triều Đông Dương Indrapura : từ giữa thế kỷ 9 đến thế kỷ 10. Lúc này kinh đô Chăm chuyển ra phía Bắc xây dựng tại làng Đông Dương, bên bờ sông Ly Ly, một nhánh của sông Thu Bồn, cách cố đô Trà Kiệu 15 km về phía Nam. Indrapura là thành phố chiếu đầy ánh hào quang. Trong thời kỳ này do ảnh hưởng của Phật Giáo nên Đông Dương là nơi tập hợp đền chùa và cung điện với hơn 30 công triònh kiến trúc, có cả chùa Phật Giáo và Ấn Độ Giáo. Vương triều này có 9 đời vua. Vương triều Vijaya : Vua Yangpuku lên ngôi năm 999 quyết định dời đô về Vijaya, còn gọi là thành Đồ Bàn, với trung tâm là ngọn tháp Cánh Tiên, thuộc huyện An Nhơn, Bình Định. Vương triều kéo dài khoảng 5 thế kỷ với nhiều biến động, nhiều lần dời đô về phương Nam và lãnh thổ lúc này bị thu hẹp dần. Vương triều Paduranga : từ giữa thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 17. Sau khi thành Đồ Bàn thất thủ, vương quốc.

Chứng chỉ nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch (LH 0969 650 993)

Chứng chỉ hướng dẫn viên du lịch

Đào tạo nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch toàn quốc

Chứng chỉ du lịch tại Hà Nội

Lớp nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch

Comments

comments

Share