13254191_880092655436147_1578521428044022510_n

Thánh địa Cát Tiên (1): Văn hóa cộng đồng các dân tộc ở Tà Lài

DÂN TỘC S’TIÊNG

S’tiêng là tên gọi chính thức của một dân tộc ít người Việt Nam, địa bàn cư trú chính ở các tỉnh Bình Phước, tây Ninh, Lâm Đồng, Đồng Nai.
Dân tộc này có rất nhiều tên gọi khác nhau như: Xa Điêng, Tà Mun, Dalmer, Bà Tô, Bù Díp, Bù Le, Bù Lách, Bà rá, Ray.
Vào tháng ba năm 1979 được thống nhất tên gọi chung là dân tộc S’Tiêng thuộc nhóm ngọn ngữ Môn-Khmer. Dân số tại ấp 4 xã Tà Lài là 275 người, là nhóm dân tộc bản địa có lòng yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngay từ những năm 1861 khi thực dân Pháp mới đánh chiếm Việt Nam thì người S’Tiêng đã sát cánh cùng các dân tộc anh em vùng lên chống thực dân.
Người S’tiêng gọi làng là Sóc, Bòn hoặc Bù mỗi Sóc xưa kia có vài dãy nhà hoặc vài chục ngôi nhà nhỏ, do sống theo kiểu du canh du cư nên vị trí của làng không ổn định.
Cũng giống như các dân tộc ít người vùng Đồng Nam bộ và vùng Tây Nguyên, những hoạt động văn hóa và các phong tục tập quán, lễ hội cũng giống như dân tộc anh em Châu Mạ.
Một vài điểm khác biệt so với dân tộc Châu Mạ là trong cưới hỏi đôi trai gái lớn lên có quyền tự do tìm hiểu, người con gái biểu lộ tình cảm của mình qua các bài hát đối đáp giao duyên, qua tiếp xúc hàng ngày.
Khi chàng trai mê cô gái nào thì phải mất nhiều công sức tiếp cận và khéo léo hỏi những người sống gần nhà cô gái để biết xem cố gái đã hứa hẹn với ai chưa. Nếu chưa, chàng trai tìm cơ hội mời cô gái uống rượu chung, sau đó mượn ống điếu của cô đang hút để mình hút tiếp, lúc trả lại thấy cô gái không nhồi thuốc mới thì chàng trai có thể yên tâm, ngược lại nếu cô phì bã thuốc rồi nhồi thuốc mới thì chàng trai hết hy vọng.
Chàng trai tiếp tục gây cảm tình bằng cách tặng cô một nắm thuốc hút, rồi rủ cô gái ra khỏi nhà để trò truyện tâm tình. Khi cô gái đồng ý, hai người cùng dắt nhau ra chòi ở rẫy không xa nhà bao nhiêu, sau đó cùng chung sống. Mỗi lần gặp gỡ như vậy chàng trai lại tặng cô gái một món quà làm kỷ niệm, thường là vòng hoặc nhẫn bằng đồng.
Trong suốt thời gian quen biết lỡ cô gái mang bầu mà chàng trai không chịu cưới cô gái, thì cô gái sẽ khai ra và chàng trai sẽ bị làng phạt nặng.
Nếu chàng trai và cô gái ưng thuận nhau thì cha mẹ hai bên sẽ tổ chức làm lễ cưới cho họ. Phẩm vật của lễ cưới gồm ché cổ, một thanh đao, một chiêng, ba con heo, một con trâu, váy áo, rượu cần, hai chuỗi cườm, vòng đồng và một số cuộn chỉ.
Trong lễ cưới, mỗi bên chọn một người làm chứng, thạo cầu khấn. Đôi trai gái cùng bà con hai họ đứng trước bàn thờ đằng gái nghe người làm chứng đọc lời khấn khứa thần linh và tổ tiên ông bà về chứng kiến, ban phước sự may mắn, hạnh phúc cho cặp vợ chồng trẻ. Cúng xong ông làm chứng cho bên đằng trai buộc chỉ vào cổ tay cô dâu và ông cũng làm chứng cho nhà gái buộc chỉ vào cổ tay chàng rể. Sợi chỉ buộc cổ tay có giá trị thiêng liêng như chiếc nhẫn cưới của đôi nam nữ dân tộc Kinh. Sau đó đôi vợ chồng trẻ được họ hàng và mọi người tham dự mừng tiền làm vốn, bắt đầu tạo dựng cơ nghiệp mới. Lễ này diễn ra trong vòng một tiếng, sau đó khách khứa vui vẻ ăn uống, ca hát, đánh chiêng và nhảy múa suốt đêm.
Về sau khi có điều kiện, đối vợ chồng trẻ tổ chức đám cưới lại, mặc dù họ đã có con cháu đầy đàn. Bữa tiệc tổ chức trong đám cưới này để đãi nhà gái là thịt heo, trâu và uống rượu cần. Đến đây mới chính thức kết thúc một đám cưới của dân tộc S’Tiêng.
Thường thì trai gái S’Tiêng rất chung thủy trong việc chọn bạn tình của mình, khi cả hai đều ưng thuận họ sẽ tiến hành lễ cưới.
Tục lệ S’Tiêng cho phép con cô con cậu ruột có thể lấy nhau, đặc biệt họ có tục lệ cưới chị em vợ hoặc anh em chồng. Vợ chết người chồng có thể lấy em vợ nhưng không được lấy chị vợ hoặc khi người chồng chết, người vợ có thể lấy em trai của chồng nhưng không được phép lấy anh chồng, nếu làm không đúng sẽ bị làng phạt vạ rất nặng.

DÂN TỘC CHÂU RO
Châu Ro theo nghĩa tiếng việt thì Châu có nghĩa là người, còn Ro là bộ tộc. Dân tộc Châu Ro theo thống kê đầu năm 1996 có 11.805 người xếp thứ năm trong số 40 dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Ngôn ngữ thuộc nhóm Môn-Khmer. Tổng số dân Châu Ro trong cả nước có khoảng hơn 15.000 người, họ sống phân bố ở các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu ; Bình Thuận và Bình Phước, sinh hoạt văn hóa, sản xuất, lễ hội, phong tục tập quán cũng giống như dân tộc Châu Mạ anh em.
Nhưng có một vài khác biệt đối với dân tộc Châu Mạ:
Trong cưới hỏi, khi trai gái đến tuổi trưởng thành họ được tự do tìm hiểu nhau thông qua các lễ hội của buôn làng, qua việc đi làm nương rẫy, bắt cá, đi săn … Qua những lần gặp gỡ này, nếu đối trai gái có cảm tình với nhau, họ sẽ đi tìm nhau và rủ nhau đến một nơi vắng vẻ để tâm sự bước đầu.
Vào ban đêm chàng trai đến nhà cô gái với nhánh lồ ô trên tay, khi tới nhà cô gái anh ta tiến lại gần phòng cô gái và đút nhánh lồ ô vào khe cửa phòng của cô gái hoặc chọc từ dưới sàn chọc lên. Nếu cành lồ ô được cô gái kéo vào là xem như dấu hiệu cha mẹ cô gái đã ngủ và cửa được mở ra, chàng trai được vào ngủ cùng cô gái, sớm ngày hôm sau ra về trước khi trời sáng. Ngược lại nếu cành lồ ô bị cô gái đẩy ra báo hiệu cho chàng trai biết rằng hãy ráng chờ đấy vì cha mẹ cô còn thức đó à nhen!..
Suốt ba đêm liền như vậy mà chàng trai chưa nói gì đến chuyện cưới hỏi hoặc trao vật làm tin thì cô gái yêu cầu chàng trai để lại vật làm tin là áo, khăn hoặc vòng.
Trong kho từ điển của người Châu Ro không có từ “trinh tiết”, cả chàng trai và cô gái đều nói chuyện với cha mẹ mình về mối quan hệ tình cảm đó. Nếu cả hai bên gia đình cùng ưng thuận thì tiến hành tổ chức lễ cưới.
Họ nhà trai mang lễ vật qua nhà gái theo từng cặp ý nghĩa đôi trai gái sẽ mãi mãi hạnh phúc bên nhau, lễ vật thường bao gồm; cặp trâu, heo, gà vịt, ché rượu cần, bánh nếp, chà gạt, mùng mền, chiếu, trầu cau.
Hai bên họ hàng cùng vui chơi, ăn uống, hát hò, nhảy múa thâu đêm.
Sáng ngày hôm sau mọi người giải tán còn chàng rể ở luôn nhà đằng gái.
Sau tám ngày cả dâu và rề cùng về nhà trai và mang theo một số lễ vật như gà, vịt, rượu, bánh, trầu cau, thuốc lá.
Khi về đến nhà trai thì nhà trai lại tổ chức tiệc mời bà con họ hàng cùng ăn uống, sau một tuần ở nhà trai thì hai vợ chồng mới về lại nhà gái và ở luôn.
Phong tục của người Châu Ro rất thoáng và không gò bó những chàng trai nhà nghèo không có điều kiện mua sắm lễ vật để cưới vợ thì bà con dòng họ sẽ giúp đỡ, người nào có gì giúp nấy, mọi người góp gạo, tiền, rượu, gà vịt, heo … mà không hề mong đền đáp chỉ mong cho mọi người cùng được hưởng những hạnh phúc vốn có của mình không phải sống cảnh cô đơn một mình cho đến suốt đời.

LỄ HỘI ĐÂM TRÂU
Là một lễ hội trọng thể trong các dịp cầu an cho làng bản sau khi thu hoặc được mùa hoặc các dịp kết nghĩa giữa các làng với nhau. Lễ hội thường được tổ chức trên một bãi đất rộng ngay trước ngôi nhà sàn dài truyền thống của Làng. Các dân tộc ít người Tây nguyên thường tổ chức lễ hội này vào dịp tháng Tư dương lịch hàng năm và tổ chức ngay trước cửa nhà rông của buôn làng. Nhà Rông cũng là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động lễ hội văn hóa của buôn làng.
Người ta dựng một cây cột cao, có trang trí bông tre và một cột thấp bên cạnh để buộc con trâu hiến tế. Con trâu hiến tế phải là con trâu khỏe mạnh được dân làng buộc trước tại đó một ngày trước khi tiến hành lễ.
Thời gian tốt nhất đế hành lễ thường được được bắt đầu lúc bảy giờ sáng. Nếu là cúng cầu an cho làng xóm thì già làng lãnh trách nhiệm đâm trâu, nếu là lễ kết nghĩa thì người bạn kết nghĩa sẽ là người trực tiếp đâm trâu. Còn lễ đâm trâu khi làng được mùa thì chọn một người thanh niên khỏe mạnh trong làng và người đó phải được mọi người yêu quý để đâm trâu. Dụng cụ để đâm trâu là một cây lao sắc, người đâm phải lựa thế đâm một nhát từ bên trái xuyên vào tin, con trâu bị đâm gục ngay xuống sàn và người ta lấy máu trâu bôi lên một số vật dụng như bông tre, hòn đá thờ của dòng họ. Nếu là đâm trâu để cầu an thì thịt trâu được chế biến thành các món để đãi cả làng, còn đâm trâu để kết nghĩa thì con vật được xẻ làm đôi, mỗi bên lấy một nửa làm tiệc đãi khách, họ hàng cùng hưởng. Bên kia cũng sẽ làm lễ đâm trâu khao vào dịp khác để đáp lễ lại. Còn đâm trâu để khao mùa màng (cúng rẫy) thì máu của con vật sẽ trở về với đất, xương khói sẽ trở về với trời còn thịt con vật sẽ làm tiệc để đãi cả làng cùng ăn uống, đánh cồng chiêng và nhảy múa thâu đêm.

LỄ HỘI CÚNG THẦN RỪNG
Từ lâu rừng là nơi che chở và nuôi dưỡng đồng bào, vì thế các hoạt động của họ đều gắn liền với rừng. Cứ ba năm dân trong làng lại cùng nhau làm lễ cúng thần rừng một lần, mọi người cùng góp gạo, rượu, gà vịt đem ra ngôi miếu củng làng được dựng trên đường đi rừng để cúng thần rừng mong thần cho bà con măng, dầu trai, mật ong … người cúng phải là già làng, cúng khấn xong người ta tổ chức nấu nướng rồi cả làng ăn uống vui vẻ trong tiếng cồng chiêng rộn rã.
Sau lễ là hội, mọi người cùng nhau nhảy múa và ca hát, những nhạc cụ truyền thống của dân tộc Châu Mạ như cồng chiêng, đàn tre, kèn môi, kèn bầu thường được người dân sử dụng sáu làn điệu phổ biến dựa theo các chủ đề như: mừng khách (Nao brot) ; Phượng hoàng bay (Nao kring) ; đi chặt lồ ô (Pát Srich Đơr).
Dàn nhạc gồm có sáu người chơi chính tương ứng với sáu làn điệu chính.
Cùng với dàn nhạc là đội múa, đội múa có từ sáu tới mười hai người, thường thì sáu nam và sáu nữ cùng tham gia vừa múa vừa hát dân ca, làn điệu dân ca Châu Mạ rất mượt và trữ tình.
Người có công sưu tập làn điệu dân ca Châu Mạ là nhạc sĩ Trần Viết Bính. Hiện đã sưu tập được ba mươi tư bài dân ca khác nhau, đây là bộ sưu tập của nhạc sĩ Trần Viết Bính với chị Krỉn sau đó phổ biến cho mọi người. Tiêu biểu là VCD với chủ để: khơi nguồn dân ca Châu Mạ của nhạc sĩ Trần Viết Bính do Đài truyền hình Sài Gòn thực hiện vào tháng 5 năm 2000.
Nhắc đến làn điệu dân ca Châu Mạ phải nhắc đến chị K’Rỉn, chị là người thể hiện tương đối thành công các làn điệu dân ca truyền thống của bản làng mình, là người có công lớn trong việc khôi phục, khơi gợi cho đồng bào cùng tham gia tích cực vào các hoạt động ca hát của làng, góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa nghệ thuật của nước nhà, đồng thời gìn giữ được di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.

Nguồn: VQG Cát Tiên.

Comments

comments

Share