ngoc-han-d

Những nghi vấn về triều đại TÂY SƠN (1771-1802) – Phần 2

Mục đich của bài này là góp ý kiến về một số tài liệu liên quan đến người và việc thuộc triều đại Tây Sơn như là các nhân vật trong gia đình họ Nguyễn Tây Sơn, Hoàng Hậu Ngọc Hân, Ngô Văn Sở , và cờ Tây Sơn.

II.Hoàng hậu Ngọc Hân Hầu hết sử gia và nhà văn học sử Việt Nam đều gọi bà là Công chúa Ngọc Hân. Thiết tưởng bà đã là hoàng hậu của vua Quang Trung cho nên không thể gọi là công chúa, vì công chúa là danh hiệu của bà trước khi lấy chồng. Sở dĩ các sử thần triều Nguyễn gọi bà là công chúa bởi vì họ không muốn công nhận Quang Trung là một vị hoàng đế. Họ ghét vua Quang Trung cho nên phế bỏ tất cả danh xưng, danh hiệu liên quan đến vua Quang Trung và nhà Tây Sơn. Để gọi nhà Tây Sơn, họ gọi là Ngụy Tây,Ngụy Huệ, Ngụy Nhạc v.v.. (Tại sao ta lại theo chân sử quan nhà Nguyễn ?)

Sau khi Nguyễn Ánh thống nhất đất nước (1802), dân chúng khắp nơi truyền tụng câu ca dao:
Gái đâu có gái lạ lùng,
Con vua lại lấy hai chồng làm vua.
Hoặc:
Gái dâu có gái lạ đời,
Con vua lại lấy hai người làm vua.

Và người ta nghĩ rằng câu trên ám chỉ Hoàng hậu Ngọc Hân, bởi vì Ngọc Hân là con gái vua Lê Hiển tông, vâng lệnh vua cha kết tóc xe tơ cùng vua Quang Trung rồi sau lại lấy vua Gia Long! Ngọc Hân là con thứ 21 và là con gái thứ chín của vua Lê Hiển tông. Thân mẫu của Công chúa là bà phi Nguyễn Thị Huyền, quê ở làng Phù Ninh, tổng Hạ Dương, tỉnh Bắc Ninh. Công chúa vâng lệnh vua cha kết duyên cùng vua Quang Trung năm bính ngọ ( 1786), lúc này công chúa vừa mười sáu tuổi. Khi Quang Trung lên ngôi, Công Chúa đuợc phong làm làm Hữu cung hoàng hậu ( Bắc cung hoàng hậu) trong khi bà vợ chánh Phạm Thị, mẹ Quang Toản được phong chánh hậu. Năm nhâm tí ( 1792) , vua Quang Trung mất, bà đau khổ làm văn tế vua Quang Trung và sáng tác Ai Tư Vãn những tác phẩm rất có giá trị trong văn học Việt Nam.

Truyền thuyết dân gian cho rằng sau khi đánh tan quân Tây Sơn, giết tuyệt con cháu Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh nạp bà Ngọc Hân làm hậu phi ( triều Nguyễn không lập hoàng hậu). Đó là thuyết ‘ nhất kính chiếu luỡng vương’ ( hai vua soi một gương). Cùng với thuyết này, Nam Phong tạp chí với bài Ngọc Hân Công Chúa dật sự ( Nam Phong Tạp chí, số 103, 1926), nói về tiểu sử bà Ngọc Hân. Bài này có hai phần. Phần đầu chép như trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí nói về việc bà vâng lệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ và đưọc phong làm Hữu cung hoàng hậu. Phần thứ hai chép như sau về sự việc sau khi Gia Long lên ngôi vua:

Dòng dõi nhà Tây Sơn đều không còn sót một ai. Công chúa Ngọc Hân vì
là con của vua Lê đuợc khỏi nạn, năm ấy đã đưọc 32 tuổi mà nét đẹp
xinh về dung sắc của công chúa vẫn chưa hề suy giảm.
Vua Thế tổ bổn triều nhà Nguyễn( Gia Long) để yên công chúa Ngọc Hân ở
một dịch đình ( ngôi đền bên cạnh), cho người hầu hạ cung phụng. Bày tôi
của vua Gia Long có người cho rằng công chúa Ngọc Hân là vật dư thừa của
Tây Sơn mà can gián vua. Vua Gia Long bảo:
“Lãnh thổ và nhân dân ngày nay không có một món gì là không phải
vật thừa dư của Tây Sơn thì mới làm sao?”

Về sau vua Gia Long cho công chúa Ngọc Hân về Bắc theo quê quán của
mẹ ở Bắc Ninh cho đến lúc lâm chung.
Xét lại công chúa lúc còn nhỏ thì làm con gái vua, lúc trưởng thành
làm hoàng hậu, kế theo làm hoàng thái hậu, niềm vinh diệu một đời công chúa
có thể nói là cùng tột. Đến ngày xế bóng, công chúa Ngọc Hân không khỏi lưu lạc( nơi quê mẹ), tưởng rằng công chúa lúc ấy án theo nay mà nhớ lại xưa, há chẳng áo não mà than thở cho tạo vật đã trêu người, chẳng có việc gì là không đến đuợc, mà phát sinh nỗi cảm khái vô biên chăng? (Tạ Quang Phát dịch , 120-123 )

Nhiều người đọc bài trên cho rằng bà Ngọc Hân đã sống chung với vua Gia Long, đó là hiểu sai. Theo bài này, vua Gia Long có ý định thâu nạp bà nhưng bà không ưng thuận, cuối cùng vua Gia Long phải để bà sống ở dịch đình ( trí chi dịch đình) là một nhà khách, và cuối cùng để bà trở về quê mẹ. Nếu bà đồng ý sống với vua Gia Long thì bà phải ở trong một cung nào đó chứ không ở dịch đình, và bà đã ở lại cung chứ không lui về quê mẹ! Nên nhớ rằng ngày xưa một khi đã bước vào cung làm phi tần rồi thì không bao giờ đuợc trở ra ngoài nữa ngoại trừ vua cho phép haybị thải hồi!
Bác sĩ Hồ Văn Châm, một nhà nghiên cứu tại Canada, cho rằng ông mắt thấy hai bản phả hệ hoàng tộc bằng quốc ngữ và bằng hán văn . Bản phả hệ hoàng tộc bằng quốc ngữ nói rằng bà Ngọc Hân tái giá cùng vua Gia Long, và sinh hạ một số hoàng tử. Nhưng ông Hồ Văn Châm cho rằng thuyết này không đúng bởi vì dây là một bản quốc ngữ, có thể dịch sai hoặc hiểu sai nguyên văn chữ hán. Bác sĩ Hồ Văn Châm viết
. .. cuốn ngọc phả bản quốc ngữ của Tôn Nhân Phủ đã khẳng định Công Chúa
Lê Ngọc Hân là mẹ đẻ của Quảng Oai Công và Thường Tín Quận Vương?
Xin thưa ngay rằngcuốn gia phả này là bản quốc ngữ, không phải bản Hán
văn, lại không phải do Quốc Sử Quán biên soạn mà là tác phẩm phiên dịch
của Tôn Nhân Phủ từ bản Hán văn cũng của Tôn Nhân Phủ mà ra. Mà bản
Hán văn này thì trong các chương nói về Quảng Oai Công và Thường Tín
Quận Vương đã viết rằng mẹ các ngài là Công Chúa Lê Ngọc con Vua Hiển
Tông nhà Hậu Lê. Cái lối hành văn cổ điển bằng Hán tự thì có khi nào nêu
rõ tục danh đâu. Mà tác giả bản Hán văn khi viết rằng mẹ các ngài là Công
chúa Lê Ngọc con Vua Hiển Tông nhà Hậu Lê đã chắc đâu muốn khẳng định
rằng đó là Công Chúa Lê Ngọc Hân. Biết đâu tác giả bản Hán văn muốn nói
đến một nàng Công Chúa Lê Ngọc khác,cũng con Vua Hiển Tông nhà Hậu
Lê? Mà điều này thì những người phiên dịch ra quốc ngữ đã không hề hay
biết, lại thêm nặng tinh thần tân học, viết lách trình bày chuyện gì cũng
muốn tách bạch rõ ràng nên đã phiên dịch cụm từ “Công Chúa Lê Ngọc con
Vua Hiển Tông” thành “Công Chúa Lê Ngọc Hân con Vua Hiển Tông” theo
sở kiến chủ quan củamình (op.cit).
Bác sĩ Hồ Văn Châm nói đúng. Ngày xưa vì tôn kính( kiêng húy), sử gia đôi khi không chép rõ tên họ các nhân vật. Ví dụ Nguyễn Du chỉ dược ghi là Tiên Điền hay Nguyễn Tiên Điền. Còn đàn bà thì ít khi đuợc ghi tên. Đại Nam Liệt Truyện II khi viết về Quảng Oai công, và Thường Tín Công chỉ viết đơn sơ là con thứ 10 và con thứ 11 của Thế tổ và Đức Phi họ Lê (61-62).
Bà Ngọc Hân là một tác giả quan trọng trong văn học Việt Nam và lịch sử Viêt Nam cho nên được nhiều người nghiên cứu. Phần đông đều chấp nhận năm sinh của bà là 1771. Có nhiều tài liệu khác nhau về bà Ngọc Hân , tựu trung có những tài liệu chính như sau:
1.Không nói gì hoặc nói rất sơ lược về cuộc đời bà, nhất là không đá động đến cái chết của bà, đó là trường hợp Ngô Thời Chí ( Hoàng Lê Nhất Thống Chí), Dương Quảng Hàm (Việt Nam Văn Học Sử Yếu) và Nghiêm Toản (Việt Nam Văn Học Trích Yếu).
2.Không biết rõ năm sinh năm mất, đó là Trần Văn Giáp ( Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam).
3.Bà Ngọc Hân và các con trốn thoát. Đại diện khuynh hướng này là Hồ Hữu Tường. Ông viết trong bài Phân trần trong Hoà Đồng 4:
Ngọc Hân công chúa dắt Quang Thiệu vào Nam, mẹ con đổi tên họ, Quang
Thiệu sau lập đạo là đuợc người đời tôn là Phật Thầy, và họ Hồ chúng tôi,
thờ hai chữ kế Thế trong nhà, là dòng dõi của Quang Thiệu ( 2).
4. Bà Ngọc Hân và các con trốn không thoát, bị hành hình. Nhiều nhà văn trình bày nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng bà trốn về Hải Dương (Hồ Văn Châm op.cit) , sau mẹ con bị tố cáo rồi bị đem ra hành hình. Có thuyết nói bà đem hai con trốn vào miền quê Quảng Nam ít lâu sau bại lộ, bị bắt đem về Huế xử tam ban triều điển. Thanh Lãng cũng, theo thuyết này, và ông cho rằng Lê Ngọc Hân mất năm 1803( Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam I , .572).

5. Bà mất trước 1802.
Thuyết này cho rằng bà đã chết trước khi Nguyễn Ánh thống nhất dất nước nên không thể có việc bà tái giá cùng vua Gia Long. Hoàng Thúc Trâm ( Quốc Văn Đời Tây Sơn, 34) cho rằng bà mất năm kỷ mùi (1799) vì ông căn cứ vào Dụ Am văn tập của Phan Huy Ich với năm bài văn tế Vũ Hoàng hậu, do Phan Huy Ich viết thay cho vua Cảnh Thịnh, các con gái vua Quang Trung, Phù Ninh từ cung( mẹ bà Ngọc Hân). Họ hàng nhà cựu Lê và bà con ở Phù Ninh. Phạm Văn Đang (Văn Học Tây Sơn) , Nguyễn Văn Sâm
( Văn Học Nam Hà) và Phạm Thế Ngũ (Việt Nam Văn Học Sử) đều theo ý kiến này.

Theo thiển kiến, thuyết của Hoàng Thúc Trâm e không ổn vì:
1.Tục lệ Việt Nam, khi con mất, cha mẹ không làm văn tế. Người ta làm văn tế cho những bậc trên đã khuất, chứ không làm văn tế cho người dưới. Thương con, cha mẹ có thể làm văn, thơ khóc con mà thôi. (Ngay khi con chết, nhiều nơi cha mẹ không đưa đám con)

2. Quang Trung mất năm 1792, Quang Toản lên ngôi lúc 10 tuổi, hiệu là Cảnh Thịnh, tất nhiên sau 1792, Phạm thị, mẹ ruột của Quang Toản phải được tôn là thái hậu, chứ không phải là hoàng hậu.

Bà Ngọc Hân nếu không được tôn là thái hậu thì cũng phải đuợc gọi bằng một danh xưng nào tương xứng (thí dụ là hoàng hậu tiền triều) chứ không thể gọi là hoàng hậu. Vua Thái Đức mất 1793, con là Nguyễn Bảo được phong Hiến công. Vậy hoàng hậu chỉ là vợ của Cảnh Thịnh ( lúc này Cảnh Thịnh 17 tuổi). Phan Huy Ich là môt nho gia đời trước, tất nhiên không thể dùng danh từ bừa bãi, không phân biệt hoàng hậu với thái hậu. Vậy ai chết năm 1799? Không phải chánh cung Phạm Thị, vì lúc này bà là Hoàng Thái hậu chứ không phải hoàng hậu. Cùng với việc này, chúng ta thấy rất khó khăn khi nghiên cứu về gia đình Nguyễn Huệ. Ai là mẹ của Quang Thùy? Bà vợ nào của Nguyễn Huệ bị Nguyễn Nhạc hiếp sau khi Nguyễn Nhạc đi Bắc Hà về? Bà nào bị bệnh năm 1791? Theo thư của Le Roy thì tiếm vương Nguyễn Huệ cần một thầy thuốc chữa bệnh cho vợ và ông Gérard đưọc cử đến. Theo thư của Sérard thì bệnh nhân là chánh hậu và bà mất vào tháng ba, và cái chêt của bà này làm cho tiếm vưong đau đớn đi đến chỗ lâm bệnh rồi mât sau do mấy tháng. Nhưng thư của Gérard lại nói rằng bệnh nhân là một vợ bé được thương yêu như vợ cả ( Đặng Phương Nghi, 151, 170-171).

Gérard ở gần bệnh nhân nên rõ bệnh nhân hơn Sérard. Vậy bà phi mất năm 1791 không phải là chính cung họ Phạm, cũng không phải Bắc cung Ngọc Hân, vì Bắc cung sau 1792 còn tại thế và làm bài Ai Tư Vãn và văn tế Quang Trung. Vậy quý phi đó là ai?

Phan Thúc Trực, một nhà nho sống buổi cuối Lê đầu Nguyễn, tác giả bộ Quốc Sử Di Biên, đã cho ta một vài chi tiết về Tây sơn và bà Ngọc Hân.
Phan Thúc Trực viết rằng tháng năm năm nhâm tuất (1802), quân Nguyễn Ánh đánh miền Bắc, quân Tây Sơn tan rã, anh em Nguyễn Quang Toản chạy về mạn Lạng giang, rốt cuộc Nguyễn Quang Thùy tự tử, bọn Võ Thám bắt anh em Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thiệu dâng đại quân, và dâng bà phi Lê Thị Ngọc Bình vào trong nội cung nhà vua. Ngọc Bình là chị em với Ngọc Hân công chúa, vợ vua Quang Trung, đuợc vua Gia Long thâu nhận làm đệ tam cung, sinh hạ Quảng Oai công (thứ 12) và Thường Tín công(thứ 14) Lê Văn Duyệt thường nói hoàng thượng thường dẫn tích Ngụy Báu và Bạc Cơ để giải đáp nghi vấn.

Còn bà Ngọc Hân sau khi Tây Sơn mất, lui về quê mẹ là làng Phù Ninh, và mất tại đây sau ngày 21 tháng năm năm giáp tí (1804). Một viên hàng thần đang nhận chức quan tại Đông ngạn xin phép nhà vua làm tang lễ cho công chúa, đuợc nhà vua chấp nhận.. Dân làng Phù Ninh lập từ đường thờ cố công chúa (136-190). Như vậy, phải chăng bà là công chúa vua Lê, lại đuợc em là Ngọc Bình can thiệp nên vua Gia Long tha tội chết cho bà sau khi đã giết chết con bà?

Theo các sử liệu do Ty Thông Tin Văn Hóa Nghĩa Bình công bố, Ngọc Bình công chúa là chính Cung Hoàng Hậu của vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản chứ không phải vợ vua Quang Trung như Quốc Sử Di Biên. Theo tài liệu ty Thông tin Văn hóa Nghĩa Bình, Ngọc Bình và Quang Toản cùng sinh năm 1783. Có lẽ tài liệu này đã viết theo các phúc trình của các giáo sĩ Longer và Le Labousse gửi cho Phái bộ Truyền giáo Nam Hà đã ghi chép . Như vậy khi Ngọc Bình bị bắt và giao nạp nội cung, bà mới hai mươi tuổi, là tuổi son trẻ xinh tươi, trong khi bà Ngọc Hân đã 32 tuổi, chưa già nhưng cũng không còn xuân sắc.
Chúng ta có thể kết luận rằng câu ca dao truyền tụng trong dân chúng là đúng và người con gái có một số phận đặc biệt, con gái vua, lấy hai chồng cũng làm vua đó là Ngọc Bình , em gái cùng cha mẹ với hoàng hậu Ngọc Hân.

Comments

comments

Share