37-38-nguoi-thay-1

Những nghi vấn về triều đại TÂY SƠN (1771-1802) – Phần 1

Mục đich của bài này là góp ý kiến về một số tài liệu liên quan đến người và việc thuộc triều đại Tây Sơn như là các nhân vật trong gia đình họ Nguyễn Tây Sơn, Hoàng Hậu Ngọc Hân, Ngô Văn Sở , và cờ Tây Sơn. I. GIA ĐÌNH Họ Nguyễn Tây Sơn
1. Nguyễn Nhạc

Trong gia đình họ Nguyẽn, Nguyễn Nhạc là con trưởng, Nguyễn Lữ là con thứ hai, và Nguyễn Huệ là út. Năm 1771, Nguyễn Nhạc nổi lên ở Quy Nhơn, năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, hiệu Thái Đức, Nguyễn Lữ được phong làm Tiết chế, và Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân. Năm bính ngọ (1786), Nguyễn Huệ đem binh ra Bắc dứt chúa Trịnh, khi hai anh em lui quân về nam, Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương hoàng đế, dóng đô ở Quy Nhơn, phong Nguyễn Huệ là Bắc Bình vương, đóng ở Phú Xuân và Nguyễn Lữ làm Đông Định vương vào trấn giữ Gia Định. Năm quý sửu (1793), Nguyễn Ánh vây Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc bị bệnh, sai người cầu cứu Cảnh Thịnh, Thái úy Phạm Công Hưng, Đại Tư Mã Ngô Văn Sở đem quân vào chiếm thành quách, Nguyễn Nhạc tức hộc máu mà chết. Con Nguyễn Nhạc là Nguyễn Bảo bị giáng làm Hiếu công. Năm đinh tị(1797), Bảo muốn quy thuận Nguyễn Ánh, quân Tây Sơn vây thành, bắt Bảo uống thuốc độc mà chết.
Năm nhâm tuất (1802), cơ nghiệp nhà Tây Sơn tiêu tan. Vua Gia Long hành hình con cháu và các tướng Tây Sơn. Nguyễn Ánh còn khai quật mộ phần Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, xương cốt quăng xuống sông, còn sọ làm bình đựng nước tiểu. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), nhà Nguyễn mới tìm ra các con của Nguyễn Nhạc là Văn Đức, Văn Lương, và cháu là Văn Đâu ( con Văn Lương), tất cả bị chém ngang lưng ( Liệt truyện II, 491-540)

Đào tạo nghiệp vụ Hướng dẫn Viên Du lịch
2. NGUYỄN LỮ

Năm 1786, Nguyễn Lữ làm Đông Dịnh vương, cai quản vùng Gia định, nhưng Nguyễn Lữ kém tài, Nguyễn Ánh lại đem quân đánh đuổi tướng Tây Sơn là Phạm Văn Tham. Tháng 8-1788, Nguyễn vương vào thành Gia Định, làm kế ly gián Phạm Văn Tham và Nguyễn Lữ. Khi quân Phạm Văn Tham đến, Nguyễn Lữ tưởng là Tham đã đầu hàng Nguyễn Ánh nên rút quân về Qui Nhơn, it lâu sau rồi chết. Sử không cho biết Nguyễn Lữ có con cái hay không.

3. NGUYỄN HUỆ

Năm 1778, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xưng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, tôn bà Ngọc Hân làm Bắc cung hoàng hậu. Sau chiến thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ đổi tên là Quang Bình và dùng tên này khi viết văn kiện ngoại giao với Trung Quốc. Vua mất năm mhâm tí (1792). Ngài có it nhất ba người vợ. Bà chánh hậu là Phạm thị, người Quy Nhơn, anh em cùng cha khác mẹ với Hình bộ Thượng thư Bùi Văn Nhật, và Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Bà sinh ba trai, hai gái. Quang Toản là con trưởng, một trong hai gái gả cho phò mã Nguyễn Văn Trị
Bà vợ thứ không rõ tên họ, sinh Quang Thùy, và Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân.

Quang Toản (1783-1802) tên là Trác, lên ngôi năm 1792 lúc 10 tuổi, phong Quang Thùy làm Khang công, Tiết chế các doanh quân thủy bộ ở bắc biên, kiêm các việc quân dân, còn Quang Hãn (Quang Bàn) làm Tuyên công lĩnh Đốc trấn Thanh Hóa, kiêm các việc quân dân.

Đào tạo Văn thư Lưu trữ
Tháng năm tân dậu (1801), quân Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân, phò mã Nguyễn Văn Trị đem binh chống giữ nhưng thất trận bị bắt sống. Quang Toản, Quang Thiệu và Thái sư Quang Khanh chạy ra bắc. Các em của Quang Toản là Quang Cương, Quang Tự và Quang Điện và 30 đàn bà con gái của nhà Tây Sơn đều bị bắt sống. ( Thực Lục , 442). Có lẽ đây là ba người con của bà Ngọc Hân. Giáo sĩ Barizy đã đi xem và cho biết cùng bị bắt với bà Ngọc Hân có mẹ, và em vợ Trần Quang Diệu, vợ Võ Văn Dũng và các con của bà Ngọc Hân. Ông hết sức ca tụng nét mặt đẹp trai và khí phách hiên ngang của các con bà Ngọc Hân khi bị bắt (Tạ Chí Đại Trường, 336).

Lúc này trung thư lệnh Trần Văn Kỷ đầu hàng lại mưu thông với Tây Sơn nên bị Nguyễn vương giết. Nguyễn vương sai đóng cũi Nguyễn Quang Cương đem về Bình Định cho dân này biết, và đem Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Điện, và phò mã Nguyễn Văn Trị về Gia Định hành hình. ( Thục Lục, 446).

Đào tạo chứng chỉ Nghiệp vụ sư phạm
Tháng sáu năm nhâm tuất (1802), kết thúc trận chiến, Quang Hãn đầu hàng, Quang Toản, Quang Thùy, Quang Thiệu, Tư mã Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Tứ bị bắt sống. Quang Thùy, Nguyễn Văn Tứ và vợ tự sát. Quang Toản bị đóng cũi đưa về Bắc Thành. Ngày 7-10 năm nhâm tuất, mộ Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ bị đào, anh em nhà Tây Sơn và các tướng bị lăng trì, tất cả 31 người ( Thực Lục 473).

Nói tóm lại, Nguyễn Nhạc có ba trai là Nguyễn Bảo, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Lương và con của Nguyễn Văn Lương là Nguyễn Văn Đâu. Còn Nguyễn Huệ có 7 trai là Quang Toản, Quang Thùy, Quang Thiệu, Quang Hãn, Quang Cương, Quang Tự và Quang Điện.

Lớp Giảng viên an toàn lao động
Theo bác sĩ Hồ Văn Châm, quyển Tây Sơn Tiềm Long Lục cho biết bà Hoàng hậu họ Phạm, tên là Phạm Thị Liên, người Bình Định, anh là Hộ giá Phạm Văn Ngạn, giả vương Phạm Văn Trị, Thái úy Phạm văn Tham, và Thái úy Phạm Văn Hưng. Bà còn có hai người anh cùng mẹ khác cha là Thái sư Bùi Đắc Tuyên và Hình bộ thượng thư Bùi Văn Nhật. Chánh cung họ Phạm sinh được 5 người, ba trai hai gái. Con lớn là Quang Toản, còn có tên là Quang Bình, tức vua Cảnh Thịnh. Hai người kia là Quang Bàn ( Quang Hãn), Quang Thiệu. Quang Hãn được phong Đốc trấn Thanh Hóa, Quang Thiệu đuợc phong Thái tể. Hai người con gái thì một gả cho Nguyễn Văn Trị và một gả cho Nguyễn Phước Tư là tôn thất hệ nhất nhà Nguyễn Gia Miêu (Bên Kia Bờ Đại Dương).

Tài liệu nàyrất đầy đủ nhưng cho ta một nghi vấn. Nguyễn Huệ có tên là Quang Bình, không lẽ sinh con cũng đặt tên là Quang Bình ư? Người Việt Nam không có việc đặt tên trùng như ở Tây phương.
Bà Ngọc Hân có mấy con? Trong Ai Tư Vãn, bà Ngọc Hân cho biết có một trai, một gái:
Nhờ hồng phúc đôi đường hòe quế,
Đượm hơi dương, dây rể đều tươi .
. . . . . . . . .
Còn trứng nuớc thương vì đôi chút.

Các con của bà Ngọc Hân là một nghi vấn. Ba trẻ Quang Cương, Quang Tự và Quang Điện đều là con Ngọc Hân hay chỉ có một hay hai trong bốn trẻ này? Nếu như chỉ có một, vậy hai trẻ kia con ai? Sự thực Thực Lục chỉ nêu tên Quang Cương, Quang Tự và Quang Điện mà không nói rõ con ai, chỉ nói là em Quang Toản. Tài liệu của Barizy( Tạ Chí Đại Trường, 336) cũng không nói rõ tên và số con của Ngọc Hân. Theo Hồ Hữu Tường, con trai của bà Ngọc Hân tên Quang Thiệu và trốn thoát , sinh ra con cháu mà hậu duệ là Hồ Hữu Tường( Hoà Đồng số , 2-3)! Thiết tưởng thiếu gì tên lại đặt trùng tên con bà cả? Theo sử, con cháu nhà Tây Sơn bị giết hết, nhất là con của bà Lê Ngọc Hân. Phải chăng Hồ Hữu Tường lầm lẫn?

Nhiều tài liệu trong đó có Thanh Lãng ( Bảng Lược Đồ Văn Học I), Nguyễn Huyền Anh ( Việt Nam Danh Nhân Từ Điển), Phạm Thế Ngũ ( Việt Nam Văn Học Sử II) cho rằng bà Ngọc Hân có hai con, một trai một gái nhưng không cho biết tên. Theo bác sĩ Hồ Văn Châm, con bà Ngọc Hân tên là Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Thị Ngọc ( op.cit). Có lẽ điều này gần với Ai Tư Vãn nhưng lại không có một căn bản sử vì trong sử không nói đến hai tên này.Vả lại, thiếu gì tên mà bà Ngọc Hân lại đặt tên trùng tên con của Nguyễn Nhạc! Hay có sự lần lẫn nào đây?

Thực Lục phiên âm Quang Hãn, Quang Điện nhưng các bản khác phiên là Quang Bàn , Quang Diệu. Phải chăng các bản Hán văn viết không rõ hay viết sai hoặc do người dịch sai? ( Chúng tôi không có nguyên bản Hán văn để khảo việc này).

-Hồ Hữu Tường cho rằng ông thầy Quảng cho ông nội của tác giả biết rõ lai lịch của ông, và giao cho ông nội tác giả quyển Hoa Dinh Cẩm Trận. Việc bí mật như thế tại sao gia đình ông không biết mà người ngoài, ông thầy Quảng lại biết mà kể cho ông nội của tác giả là Hồ Văn Điểu? Ông thầy Quảng là người thuộc thế hệ sau, làm sao biết việc bí mật của bà Ngọc Hân? Những điều ông thầy Quảng là đúng hay sai, làm sao kiểm chứng? Hơn nữa, theo tác giả, ông nội của Hồ Hữu Tường là Hồ Văn Điểu là con của một người họ Hồ làm con nuôi Hồ Văn Phỉ. Vậy dòng dõi của Hồ Hữu Tường không rõ rệt, là giòng một họ Hồ nào đó, không phải là dòng của Hồ Văn Phi, dòng của Quang Thiệu nếu như Quang Thiệu còn sống(Thằng Thuộc con nhà nông. Hoà Dồng1, 13-14) .

-Ông Hồ Hữu Tường còn đi xa hơn khi ông viết rằng con của Ngọc Hân là Quang Thiệu tức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên( Đoàn Minh Huyên là tên giả của Nguyễn Quang Thiệu). Phật Thầy đi tu làm sao có con là ông nội của Hồ Hữu Tường. Hồ Hữu Tường giải thích là do Quang Thiệu bị áp lực tinh thần của mẹ là Ngọc Hân và dì là Ngọc Mân, người phải thi hành sứ mạng “chủng cây sơn cấm” với người con của dì là Phượng con hoang của Ngọc Mân và vua Gia Long. ( Phân trần, Hoà Đồng 4, tr. 3).
Ngay trong đoạn này, ông Hồ Hữu Tường có nhiều sai lầm: Quang Thiệu năm 1802 mới 14 tuổi làm sao có con? Cổ nhân nói ” nữ thập tam, nam thập lục” . Đây là trường hợp hiếm hoi.

-Quốc Sử Di Biên cho biết người em gái của Ngọc Hân tên là Ngọc Bình không phải tên là Ngọc Mân. Nếu Ngọc Bình tức là Ngọc Mân hay là một ngườI khác nữa, ắt phải ở gần Ngọc Hân, tức là ở Thuận Hóa thì mới có chuyện Quang Thiệu chung chạ với con người bạn dì. Nguyễn Ánh ở Gia Định, còn gia đình Nguyễn Huệ ở Phú Xuân, làm sao Nguyễn Ánh gặp Ngọc Mân và sinh con hoang? Nguyễn Ánh chỉ có thể gặp Ngọc Mân trong lúc chiếm Phú Xuân năm 1802, trong lúc này Quang Thiệu, tức Hồ Văn Phi, khoảng 14 tuổi, theo giả thuyết của ông đã trốn thoát vào Nam ( Hoà Đồng1, 13), làm sao có thể ăn nằm với cô Phượng mà lúc này chưa ra đời thì làm sao sinh ra ông nội của Hồ Hữu Tường? Lại nữa, tác giả nói trước sau không ăn khớp. Trong HD số 1, ông cho biết ông nội Hồ Văn Điểu là con nuôi của Hồ Văn Phi, nhưng ở HD số 4 ông viết: nếu Phật Thầy không có vợ chính thức, thì làm sao năm 1836 có thể sinh ra ông nội tôi (tr.3). Vả lại Và khi nói có vợ chính thức tức có cưới hỏi. Còn ‘chủng cây sơn cấm’ ( trồng cây trên núi cấm) là việc chung chạ vụng trộm. Hai việc này khác nhau. Như đoạn trên, ông bảo Quang Thiệu cặp với cô Phượng mà sinh ra ông nội tác giả. Thiết tưởng như Quang Thiệu thiếu gì gái đẹp mà lại ăn nằm với con dì là một điều cấm kị trong phong tục Việt Nam, bà Ngọc Hân không thể chủ trưong như thế.
Nói tóm lại, Hồ Hữu Tường có rất nhiều sai lầm. Lý luận của ông hoàn toàn hoang tưởng

Kho tài liệu hướng dẫn viên du lịch.

Lớp học nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch.

Comments

comments

Share