12798849_833041213474625_8134680618827831682_n

NHA TRANG TRƯỚC NĂM 1900 ĐẾN 30-4-1975

Không biết ACE trong nhà, có ai đã bao giờ ghé thăm hay đi ngang qua phố Ninh Hòa – Dục Mỹ chưa? Chứ tôi mỗi lần đi Ninh Hòa thì phải đi qua Đèo Rù Rì nơi có những ngọn núi nối nhau chập chùng. Đặc biệt, nó có hình dáng của một người đàn bà khỏa thân nằm dài ngửa mặt nhìn trời, gối đầu lên tóc, chân duỗi thẳng về hướng Tây … Bêncạnh là một ngọn đồi cao hơn, đó là Quân Trường Đồng Đế, nơi đây có đặt một tượng của người Lính VNCH trong tư thế “thao diễn nghỉ” nên trong dân gian đã có hai câu thơ để đời là:
“Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ
Em nằm xõa tóc đợi chờ anh …”
(Hiện nay lên mạng thì thấy chữ chót là: “chờ ai?”. Nhưng với giới quân nhân của tụi tui thì lại thích “chờ anh” hơn, vì nó rất hấp dẫn với đám khóa sinh tụi tui).

Từ Thị Trấn Ninh Hòa nhìn về Hướng Tây bắc, dãy núi Trường Sơn chạy dài với màu xanh thăm thẳm, nối vào những tảng mây xám kết lại tận trời cao. Nhưng khi mây trôi qua, thì Hòn Vọng Phu lại hiện ravới hình dáng người đàn bà bế con đợi chồng đi chinh chiến đến hóa thành đá …
Có nỗi thương nhớ nào hơn! Có tấm gương chung thủy nào hơn để so sánh với thân phận của người phụ nữ Việt Nam thời chinh chiến.
Chính Nhà Thơ Vinh Hồ, đứa con của vùng đất Ninh Hòa đã viết về Hòn Vọng Phu như sau:
“Ninh Hòa có núi Vọng Phu
Tích nàng chinh phụ, mịt mù sơn khê
Chồng đi chinh chiến không về
Bồng con hóa đá, lời thề sắt son
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Trái tim chung thủy vẫn còn trơ trơ …”

Năm 1945, Nhạc sĩ Lê Thương đi từ Bắc vào Nam, cảm động trước thắng cảnh hùng vĩ và truyền thuyết hấp dẫn lạ lùng này, đã sáng tác 3 Nhạc Phẩm Hòn Vọng Phu 1, 2 và 3. Trong đó có câu:
“Nơi phía Nam giữa núi mờ
Ai bế con mãi đứng chờ …”

I- LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Nha Trang được mệnh danh là Viên Ngọc Xanh vì giá trị thiên nhiên, sắc đẹp, cũng như khí hậu của nó.
Nha Trang là một Thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa. Trước khi trở thành phần đất của Việt Nam, Nha Trang thuộc về Chiêm Thành.
Các di tích của người Chăm vẫn còn tại nhiều nơi ở Nha Trang.
Nha Trang có khí hậu nhiệt đới Xavan chịu ảnh hưởng khí hậu đại dương.
Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm là 26,3 độ C. Có mùa đông ít lạnh và mùa khô kéo dài. Mùa mưa lệch về mùa đông bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 12 dương lịch,
Từ 1653 đến giữa thế kỷ XIX, Nha Trang vẫn là một vùng đất còn hoang vu và nhiều thú dữ thuộc Hà Bạc, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh.
Chỉ qua hai thập niên đầu thế kỷ XX, bộ mặt Nha Trang đã thay đổi nhanh chóng. Với Nghị định ngày 30-8-1924 của Toàn quyền Đông Dương, Nha Trang trở thành một thị trấn (Centre Urbain).
Thị trấn Nha Trang hình thành từ các làng cổ: Xương Huân, Phương Câu, Vạn Thạnh, Phương Sài, Phước Hải.
Thời Pháp thuộc, Nha Trang được coi là Tỉnh lỵ (chef lieu) của tỉnh Khánh Hòa. Các cơ quan chuyên môn của chính quyền thuộc địa như: Tòa Công sứ, Giám binh, Nha Thương chánh, Bưu điện … đều đặt tại Nha Trang.
Tuy nhiên, các cơ quan Nam Triều như: Dinh Quan Tuần Vũ, Án sát (coi về hành chánh, tư pháp), Lãnh Binh (coi việc trật tự trị an) vẫn đóng ở Thành Diên Khánh (cách Nha Trang 10km về phía Tây Nam).
Đến Nghị định ngày 7-5-1937 của Toàn quyền Đông Dương, Nha Trang được nâng lên Thị xã (commune).
Lúc mới thành lập, Thị xã Nha Trang có 5 phường: Xương Huân là phường đệ nhất, Phương Câu là phường đệ nhị, Vạn Thạnh là phường đệ tam, Phương Sài là phường đệ tứ, Phước Hải là phường đệ ngũ.
Ngày 27-1-1958, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành Nghị định 18-BNV bãi bỏ quy chế Thị xã, chia Nha Trang thành 2 xã là: Nha Trang Đông và Nha Trang Tây thuộc quận Vĩnh Xương.
Ngày 22-10-1970, sắc lệnh số 132-SL/NV của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lấy 2 xã Nha Trang Đông, Nha Trang Tây và các xã Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên, các ấp Phước Hải (xã Vĩnh Thái), Vĩnh Điềm Hạ (xã Vĩnh Hiệp), Ngọc Thảo, Ngọc Hội, Lư Cấm (xã Vĩnh Ngọc) thuộc quận Vĩnh Xương cùng các hải đảo: Hòn Lớn, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Miễu, Hòn Tằm tái lập Thị xã Nha Trang, Tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa.
Thị xã Nha Trang chia làm 2 quận: quận 1 và quận 2.
– Quận 1 gồm các xã Nha Trang Đông, Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, các ấp Ngọc Thảo, Ngọc Hội và Lư Cấm thuộc xã Vĩnh Ngọc, ấp Vĩnh Điềm Hạ thuộc xã Vĩnh Hiệp.
– Quận 2 gồm các xã Nha Trang Tây, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên (kể cả các đảo Hòn Tre, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Tằm), ấp Phước Hải của xã Vĩnh Thái.
Tiếp đó, nghị định số 357-ĐUHC/NC/NĐ ngày 5-6-1971, chia Thị xã Nha Trang thành 11 khu phố:
– Quận 1 có các khu phố Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Ngọc Hiệp, Vạn Thạnh, Duy Tân.
– Quận 2 có các khu phố Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Phương Sài, Tân Phước, Tân Lập, Phước Hải.
Đến Nghị định số 553-BNV/HCĐP/NV ngày 22-8-1972, đổi các khu phố thành Phường.
Nghị định số 444-BNV/HCĐP/26.X ngày 3-9-1974 sáp nhập các đảo: Hòn Một, Hòn Cậu, Hòn Đụn, Hòn Chóp Vung, Hòn Đỏ vào phường Vĩnh Hải (quận 1) và Hòn Ngọc vào phường Vĩnh Nguyên (quận 2) Thị xã Nha Trang.

II- TÊN NHA TRANG
Theo nhiều nhà nghiên cứu, tên “Nha Trang” được hình thành do cách đọc của người Việt phỏng theo âm một địa danh Chăm vốn có trước là “Ya Trang” hay “Ea Trang” (có nghĩa là “sông Lau”, tiếng người Chăm, tức là gọi sông Cái chảy qua Nha Trang ngày nay, con sông này đổ ra biển đúng chỗ có nhiều cây lau). Từ tên sông, sau nói rộng ra vùng đất từ năm 1653.
Về địa danh “Nha Trang”, trong Toàn tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, tập bản đồ Việt Nam do nho sinh họ Đỗ Bá soạn vào khoảng nửa sau thế kỷ 17 đã thấy có tên “Nha Trang Môn” (cửa Nha Trang).
Trong thư tịch cổ Việt Nam, có một bản đồ khác có niên đại cuối thế kỷ 17 mang tên Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt cũng thấy ghi tên “Nha Trang Hải môn” (cửa biển Nha Trang). Đây có lẽ là những tài liệu sớm nhất đề cập đến địa danh nổi tiếng này.
Trong Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn cũng có ghi lại nhiều tên gọi Nha Trang như: “đầm Nha Trang, dinh Nha Trang, nguồn Nha Trang, đèo Nha Trang”.

III- VỊNH NHA TRANG
Vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 507 km² bao gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó Hòn Tre là đảo lớn nhất, với diện tích 3.250 ha ; đảo nhỏ nhất là Hòn Nọc chỉ khoảng 4 ha.
Vịnh có khí hậu hai mùa rõ rệt:
– Mùa khô kéo dài từ tháng giêng đến tháng 8.
– Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12.
Nhiệt độ bình quân hàng năm là 26 độ C (nóng nhất 39 độ C, lạnh nhất 14,4 độ C).
Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới, bởi nó có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới.
Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ.
Đặc biệt khu vực Hòn Mun của Vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô chiếm 40% san hô trên thế giới …
Hoạt động nghiên cứu khoa học ở Nha Trang đã được đặt nền móng từ thời Pháp thuộc với việc hình thành hai cơ sở khoa học thực nghiệm là:
– Viện Pasteur Nha Trang vào năm 1891, nghiên cứu về vệ sinh dịch tể.
– Sở Ngư nghiệp Đông Dương năm 1922 (tiền thân của Viện Hải dương học Nha Trang) chuyên nghiên cứu về biển và động vật biển. Lĩnh vực khoa học từ đó dần dần được mở rộng sang các ngành khoa học ứng dụng.
Giáo dục Đại Học tại Nha Trang bắt đầu phát triển từ năm 1971 với cơ sở đào tạo bậc Đại Học đầu tiên là Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải.
Sau năm 1975, Trường Đại học Thủy Sản Nha Trang, được chuyển từ Hải Phòng vào cùng với một số trường quân sự như: Trường Sĩ quan không quân từ Cát Bi và Trường Sĩ quan Hải quân II (tiền thân của Học viện Hải quân chuyển vào từ Quảng Ninh.
Hiện nay, Nha Trang có nhiều trường Đại Học quân sự và dân sự, Cao Đẳng phục vụ cho việc đào tạo nhân lực cho địa phương tại tất cả các bậc học … Các bãi biển dài của Thành phố này đã biến nó thành một thành phố Du lịch. Nơi đây cũng đã được chọn làm nơi tổ chức các sự kiện lớn như Festival Biển (Nha Trang), hay các cuộc thi sắc đẹp lớn như: Hoa hậu Việt Nam, Hoa hậu Thế giới người Việt 2007, Hoa hậu Hoàn vũ 2008, Hoa hậu Trái Đất 2010 … Diamond Bay (Wonderpark Resort), một resort trên đại lộ Nguyễn Tất Thành, Nha Trang, Khánh Hòa là nơi diễn ra lể đăng quang của cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2008, được hoàn thành chỉ sau bốn tháng xây dựng, khánh thành vào ngày 30-6-2008.

Nguồn bài viết: chú Nguyễn Vô.

Comments

comments

Share