14516_4776DA547036453F71AB92AAD7C727BD_T1

Mười hai bến nước

Mười hai bến nước
Trong xã hội Việt Nam ngày xưa chia thành 12 hạng người, cho nên người con gái thời đó thường băn khoăn “thân gái 12 bến nước”, ngụ ý rằng không biết bản thân mình sẽ lấy chồng thuộc hạng người nào trong số 12 hạng người nói trên.
12 hạng người trong xã hội xưa, ở Nam Bộ, gồm: Công, Hầu, Khanh, Tướng, Sĩ, Nông, Công, Thương, Ngư, Tiều, Canh, Mục. Ở Bắc bộ, thay “Ngư, Tiều, Canh, Mục” bằng “Nho, Y, Lý, Số”.Đứng đầu trong 12 hạng người thời xưa là Công – quan đại thần ở triều đình, tương đương: Thủ Tướng, Phó Thủ Tướng, Bí Thư Tỉnh Ủy, Chủ Tịch UBND tỉnh… ngày nay.
Tiếp theo sau Công chính là Hầu – chức quan bậc trung của triều đình, ví dụ cỡ: Bộ Trường, Thứ Trưởng, Giám đốc các Sở ở cấp tỉnh, Phó Chủ Tịch tỉnh…Sau Hầu là Khanh – đây là chức quan bậc thấp của triều đình, ví dụ cỡ: Cục trưởng, Viện trưởng, Phó Giám đốc các Sở cấp tỉnh, Bí thư Huyện Ủy, Chủ Tịch UBND huyện…
Tướng là các quan võ của triều đình ngày xưa, đứng sau: Công, Hầu, Khanh (do quan niệm “Trọng văn, khinh võ” thời xưa), giống như các tướng lĩnh quân đội ngày nay.
Sĩ là thành phần trí thức Nho học thời xưa, gồm: thầy đồ, thư sinh..
Nông là toàn thể nhân dân sống bằng nông nghiệp .
Công là những người thợ làm nghề thủ công .
Thương là những người dân sống bằng nghề buôn bán .
Ngư là nhân dân sống bằng nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản.
Tiều là những người dân sống bằng nghề khai thác nguồn lợi lâm sản, như đốn củi chẳng hạn.
Canh là người dân sống với nghề dệt vải (còn gọi nghề canh cửi).
Mục là những người dân sống bằng nghề chăn dắt trâu, bò.

Như đã nói, ở Bắc Bộ, thay “Ngư, Tiều, Canh, Mục” bằng “Nho, Y, Lý, Số”.
Trong đó, Nho là những người gắn bó cuộc đời với Nho học, như: thầy đồ, nho sĩ…
Y là những người sống bằng nghề bắt mạch, bốc thuốc, ngày nay gọi Đông y sĩ.
Lý là thầy địa lý, lò những người sống với nghề dịch vụ xem thế đất phong thủy giúp cho các gia chủ có nhu cầu.
Số là nhà tướng số, là những người sống với nghề tiên đoán số mệnh con người qua: chỉ tay, sắc diện, sổ sách.

 

Bài khác:

” Con gái mười hai bến nước: Thân con gái như chiếc đò, hoặc gặp bến trong, hoặc mắc bến đục, hoặc đưa người tốt, hoặc đưa người xấu, may thì nhờ, rủi thì chịu. Tiếng nói mười hai bến nước là nói cho có vần”.
( Đại Nam quấc âm tự vị, tập I, Sài Gòn, 1895. X. ở chữ bến, tr.46-7

Điều mà tác giả giảng rằng ” Tiếng nói mười hai bến nước là nói cho vần” thì chúng tôi lại quan niệm là do từ nguyên dân gian mà ra. Đối với thành ngữ đang xét, rõ ràng là hai tiếng trong, đục phải được hiểu rộng hơn cách mà ông đã nêu.

Hai danh từ bến, thuyền vẫn được dùng theo lối ẩn dụ để chỉ người con gái và người con trai trong quan hệ đính ước, hẹn hò. Từ cách dùng này, đi xa thêm một bước, bến lại được dùng để chỉ số phận của cá nhân, thường là phụ nữ, trong quan hệ nhân duyên. Chữ nhân ở đây viết là姻 và nhân duyên được Mathews’ Chinese English Dictionary giảng là ” the fate or influence which brings lovers together” nghĩa là ” số phận hoặc ảnh hưởng gắn bó ( hai) người yêu với nhau”. Bến nước trong thành ngữ mười hai bến nước chính là thứ nhân duyên này. Nhưng trong tiếng Hán lại còn có một thứ nhân duyên khác, với chữ nhân viết là 因. Đây là nhân duyên của nhà Phật mà cũng quyển từ điển trên đã giảng như sau: ” the cause which produces effects in a future life” nghĩa là ” cái nhân tạo ra những cái quả trong kiếp sau”. Theo điển lý nhà Phật thì có tất cả mười hai nhân duyên, tiếng Hán gọi là thập nhị nhân duyên. Do cách hiểu theo từ nguyên dân gian- mà vì khuôn khổ có hạn, chúng tôi không thể nói kỹ tại đây-nên người ta mới đánh tráo thứ nhân duyên của thần Ái tình vào chỗ thứ nhân duyên của nhà Phật mà diễn nôm thập nhị nhân duyên thành mười hai bến nước. Hóa cho nên chỉ có hai bến như Huỳnh Tịnh Paulus Của đã nói ” hoặc gặp bến trong, hoặc mắc bến đục(…) may thì nhờ, rủi thì chịu” đó mà thôi. Từ điển gia của chúng tôi đã không thấy được hiện tượng từ nguyên dân gian nên mới viết rằng ” tiếng nói mười hai bến nước là nói cho vần”. Nhưng ông vẫn rất đúng ở chỗ ông không thừa nhận rằng ở đây hai tiếng mười hai có ý nghĩa xác thực như khi chúng được phân bố cho những ngôn cảnh bình thường khác.

Để cho rõ hơn, chúng tôi xin được nhắc đến lý thuyết hữu quan của nhà từ nguyên học tiên phong hiện đại người Pháp là Pierre Guiraud trong cuốn Les locutions francaises (Paris, 1973). Đó là chương V mang tiêu đề ” Accidents linguistiques” (Các sự cố ngôn ngữ) trong đó tác giả đã bàn đến sự đan chéo hình thức (croisements de formes) và những sự lan truyền ý nghĩa (contaminations de sens) giữa các thành ngữ và từ ngữ với nhau. Phàm đối với các từ ngữ hóc búa kiểu mười hai bến nước mà khi nghiên cứu lại không xét đến các hiện tượng trên đây thì khó lòng tìm ra sự thật. Ở đây, nhân duyêncủa thần Ái tình đã lây nghĩa cho nhân duyêncủa nhà Phật nên mới tạo ra lối nói oái ăm đó.

Mười hai thành phần đã kể ra chỉ là kết quả của một sự liệt kê trùng lặp cốt tìm cho đủ con số vì nho củng là sĩ mà canh thì cũng là nông . Hiểu theo nghĩa rộng, nho, y, lý, bốc, cũng lại là sĩ cả. Mười hai địa chi cũng không liên quan gì đến thành ngữ đang xét.

Comments

comments

Share