làng vồm thanh hóa-daotaocaptoc.com

Làng Vồm(Thanh Hóa)-Huyền thoại và lịch sử

đào tạo du lịch, chứng chỉ du lịch, nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch, nghiệp vụ sư phạm, đào tạo kế toán, văn thư lưu trữ, an toàn lao động, đấu thầu, khai hải quan, xuất nhập khẩu


 

(Điển tích ÔNG VỒM trong lòng mọi thế hệ người dân ĐẠI KHÁNH).

Quá trình hình thành LÀNG VỒM tự bao giờ chẳng ai rõ và cũng chẳng sử sách nào ghi chép lại. Tính đến khoảng đầu thế kỷ thứ 10 có một hào trưởng họ Dương tên Đình Nghệ cai quản cả một vùng rộng lớn từ dảy núi Ngũ Hoa Sơn, làng Giàng (nơi có nền văn hóa Đông Sơn, đến chân núi Đọ, một trong những cái nôi của loài người thời tiền sử đồ đá cũ. Một quận lỵ sầm uất xa xưa đã có tên thành Tư Phố, huyện Tư Phố, quận Cửu Chân từ thời thuộc Hán khoảng năm 111 TCN).
Cho mãi đến đời nhà Nguyễn (năm 1804), theo chỉ dụ của vua Gia Long thành Tư Phố, trấn Thanh Hoa được dời từ làng Dương Xá (thuộc Thiệu Dương và Thiệu Khánh ngày nay) về làng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn để xây dựng trấn lỵ, vì Thanh Hoa năm đó bị lụt lội nặng nề, nên nhà Vua chấp nhận đề nghị của trấn Thanh Hoa được bãi miễn xây thành. Mãi đến năm Minh Mạng thứ chín (Mậu tỵ 1828) thành mới được khởi công. Năm đó Thanh Hóa được mùa lớn nên chỉ trong thời gian rất ngắn thành đã được xây dựng xong, và từ đây thành Tư Phố cổ xưa đã có tên là Hạc Thành hay Trấn thành, tỉnh lỵ của tỉnh Thanh Hóa.

làng vồm thanh hóa-daotaocaptoc.com

Từ những di vật khảo cổ còn lưu giữ được tại bảo tàng Thanh Hóa, thì làng Đại Khánh cũng nằm trong lãnh địa của ông hào trưởng họ Dương hùng mạnh với ba ngàn tráng sĩ là con nuôi. Ngài mở lò luyện võ thu nạp nhân tài, làm vây cánh mưu cầu đại sự, đánh đuổi quân Nam Hán giành quyền tự chủ độc lập cho dân tộc. Sau thời ông Dương Đình Nghệ thì xuất hiện nhân vật Ông Vồm và Ông Bưng. Như vậy có cơ sở để tiên đoán: Làng Vồm ít nhất cũng có vào khoảng những năm cuối thế kỷ thứ 10.

Trong dân gian vẫn còn truyền tụng những câu chuyện vốn hư hư thực thực, mang tính truyền ngôn, pha chút huyền thoại.
Ông Vồm là một lực sĩ khổng lồ, có sức khỏe phi thường … là người mở ấp, khai khẩn đất đai, chăn dắt con dân đầy huyền bí, nhưng lại gắn liền với một nhân vật có thật trong lịch sử & có xuất thân lai lịch rõ ràng. Giai thoại ông Vồm đấu vật với ông Bưng là huyền thoại, nhưng lại rất đời thường, bởi Đô Bưng chính là Lê Phụng Hiểu, ở vào cuối thế kỷ thứ 10 đầu thế kỷ thứ 11 thời Lý.
Đã là người làng Vồm thì không ai là không biết. Dù chỉ là truyền thuyết không được sử sách nào ghi chép lại, nhưng nó đã có một sức sống lâu bền, ăn sâu bám chặt vào nhân gian và có sức lan tỏa mãnh liệt ra khắp cả một vùng rộng lớn mà đời này qua đời khác được lưu giữ bằng miệng thế gian như câu ca:
“Trăm năm bia đá cũng mòn,
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”.

Chuyện kể rằng: Ông Lê Phụng Hiểu (có thể là Hữu, nhưng dân miền Bắc thường đọc trại ra là Hiểu, cũng như Rượu đọc là Riệu), là một con người phi phàm, vóc dáng tướng mạo khác người. Ông giỏi võ nghệ, quyền cước, kiếm cung … thời trai trẻ tung hoành đây đó đấu võ, thượng đài khắp mọi nơi. Nghe tin đồn có ông Vồm ở thành Tư Phố sức địch muôn người, bèn tìm đến đọ tài cao thấp.
Tương truyền, ông Vồm có thể gánh được hai quả núi? Một hôm trên đường gánh núi lấn biển, đến gần ngã ba đầu nơi con sông Lường hòa vào sông Mã chẳng may chiếc đòn gánh bị gãy, hai quả núi rơi xuống, một bên là núi Bằng Trình và một bên là núi Đại Khánh.
Sau này vào thế kỷ thứ 18, khi ông Ngô Thì Sĩ (là một sử gia, một nhà thơ, nhà văn nỗi tiếng) làm Hiến Sát xứ Thanh Hoa lên vãng cảnh đặt tên là Bàn A Sơn. Để khai thác hết cảnh đẹp nơi đây ông thành lập hội thi bút Quan Lan Sào do ông làm chủ soái. Trong tập thơ Quan Lan Sào thi tập của ông có một bài vịnh mười cảnh đẹp núi Bàn A, trong đó có tả là Khánh Bằng liệt chướng (tức núi Đại Khánh và núi Bằng Trình dăng hàng).

Giai thoại truyền lại rằng: Một ngày nọ ông Bưng tìm đến muốn gặp ông Vồm tỉ thí, khi tìm được đến nhà thì ông Vồm đi vắng, hỏi dân làng thì được biết ông Vồm đi đốn củi ở rừng xa. Tò mò và mong muốn được đọ tài cao thấp nên ông Bưng quyết chí chờ đợi. Rồi cũng đến lúc trời ngã về chiều, cái nắng xiên khoai gay gắt bỗng chốc chùn xuống, trời đất như tối sầm lại, dân làng vội báo với ông Bưng rằng ông Vồm sắp về đến nơi rồi, bởi gánh củi của ông che khuất cả bóng mặt trời đằng tây. Một thoáng xao lòng, nhưng bản lĩnh trận mạc đã nhiều khiến ông trấn tỉnh lại ngay, tích tắc sau ông Vồm ném gánh củi khổng lồ xuống, lừng lững bước tới, đối mặt với ông Bưng. Dẫu đã được dân làng thông báo và nghe danh đồn từ trước nhưng ông Bưng cũng không khỏi sững sốt, bởi thấy trước mặt của mình là một người vóc dáng cao lớn khác thường, ông liền đứng phắt dậy tiến lại gần ra chiêu chào hỏi thể hiện đẳng cấp con nhà võ để thị uy, và ra lời thách đấu.

Chưa từng nghe tiếng đô Bưng (tên nghệ danh của Phụng Hiểu), nay thấy một kẻ ngạo mạn đang nhếch mép cười như khiêu khích, máu nóng trong người ông sùng sục sôi lên, mặc dù vừa đi đốn củi từ rừng sâu về đã thấm mệt, chẳng cần suy nghĩ đắn đo gì, do bản tính nóng nãy nên ông Vồm đáp từ rồi bất ngờ tung chiêu đánh phủ đầu quyết ăn thua luôn với người khách lạ, hòng dạy cho kẻ ngông cuồng một bài học. Nhưng đối thủ của ông cũng chẳng phải tay vừa, bởi sự lọc lõi tinh ranh, bẳng thế võ thất sơn võ đạo phòng vệ kín, chuyển thế tấn công nhanh của mảnh thú, rất chủ động.
Vì chủ quan coi thường đối thủ, nên chỉ trong chớp mắt ông Vồm bị đối thủ lấy cái tỉnh chế cái động, quyền biến thân pháp cực kỳ mau lẹ, tránh và ra đòn phản công khá chính xác và hóc hiểm, nhấc bổng ông Vồm lên quật một đoàn chí mạng … thân thể đồ sộ của ông bay vút thật xa dính chặt vào vách núi và ông hoá thân thành đá. Từ đó sông núi, chùa chiền, tên làng xã đều được mang tên ông. Nơi ông hóa thân dân làng nhớ ơn ông có công mở đất, dựng làng nên lập đền thờ tôn là Thần hoàng (một người bình thường khi hóa thân được đặt tên núi sông, chùa chiền, làng xã … được dân làng tôn vinh là Nhân Thần lưu danh vạn đại thì không thể là hư danh thần thoại được).
Điển tích này được gắn liền với thời trai trẻ khi còn trong chốn giang hồ của Lê Phụng Hiểu, cũng là cơ sở để ta đặt lòng tin ông Vồm không phải là nhân vật thần thoại như lâu nay người ta vẫn nghĩ và nói như vậy. Ông sống cùng thời với nhân vật lịch sử Lê Phụng Hiểu. Chấp nhận tỷ thí với ông Bưng là người nổi tiếng, trong khi Ông Vồm chỉ là người vô danh, chưa có công trạng gì phò vua giúp nước, khi danh phận mới chỉ là một người võ biền thì đã bị ông Bưng quật chết nên không có cơ hội phát huy tài năng để được lưu danh trong quốc sử cũng là chuyện thường tình.

Tìm đọc tiểu sử của Lê Phụng Hiểu sau khi làm quan phò tá 3 đời vua nhà Lý ta thấy rất rõ ràng. Ông Phụng Hiểu sinh ngày mồng 8 tháng 1 năm 982 tại hương Băng Sơn, tổng Dương Sơn, huyện Cổ Đằng, lộ Thanh Hoa (nay thuộc làng Xuân Sơn, xã Hoàng Sơn, huyện Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Từ nhỏ đã ham mê võ vật, đấu quyền, múa kiếm, ném lao, có sức khỏe phi phàm. Khi vua Lý Thái Tổ nghe danh đồn, ngài cho vời Phụng Hiểu vào kinh phò tá, rồi thăng đến chức Vệ tướng quân. Năm 1028 Lê Phụng Hiểu có công dẹp loạn Tam Vương, ông dẫn quân ra chém đầu Vũ Đức Vương. Đánh cho quân sĩ của hai vương khác là Đông Chính Vương và Dực Thánh Vương khiếp hồn bạt vía bỏ chạy tán loạn, giữ ngôi vị cho Lý Bạch Mã.
Khi Lý Bạch Mã tức là vua Lý Thánh Tông lên ngôi ông được phong là Đô thống Thượng Tướng Quân.
Năm 1044 ông hộ giá vua đi đánh Chiêm Thành, sau thắng lợi trở về được phong thưởng nhưng ông không nhận, chỉ xin vua cho được đứng trên núi Băng Sơn quê hương mình ném đao, ông ném xa đến đâu thì ông xin vua ban cho đến đó để mở đất lập nghiệp (người đời sau gọi đó là tục ruộng thác đao điền).

Lại nói về Ông Vồm, ông là con dân làng Đại Khánh sống cùng thời với Lê Phụng Hiểu, vốn chỉ là người có công lập ấp, khai khẩn mở mang đất đai, có công với làng xã chứ chưa được vinh dự phò vua giúp nước, nên không có danh trong quốc sử cũng chẳng có gì là lạ.
Điều mà các thế hệ con dân làng Vồm từ quá khứ đến bây giờ, mai sau và mãi mãi muôn đời tôn sùng … là ông đã để lại một di sản phi vật thể về huyền thoại ông Vồm, ông Bưng đấu vật là hoàn toàn có thực. Ông là biểu tượng như ngọn núi Bàn A sừng sững trường tồn. Ông Vồm là nhân thần và sẽ sống mãi trong lòng mỗi con dân làng Vồm – Đại Khánh.

Ở những thập niên 60-70, thế kỷ 20 … chùa chiền miếu mạo, núi non sông ngòi, đồng ruộng nhà cửa còn hoang sơ và thơ mộng lắm, làng xã không đô thị hóa đông đúc chật chội như bây giờ. Làng chỉ lác đác mỗi xóm có vài ngôi nhà ngói, còn hầu như là nhà tranh vách đất, hoặc được xây bằng đá lô xô, nhà cửa thưa thớt, dân số ít ỏi. Ở làng đó có một cái đình to nằm ở trung tâm và chợ Vồm cũng họp ở đó. Nhưng khi cách mạng thành công, chế độ phong kiến sụp đổ, người ta không còn quan tâm đến cái cổ xưa nữa. Cán bộ thời tiền cách mạng ở làng xã phần lớn chỉ là những anh nông dân có tinh thần yêu nước, thành phần cơ bản là dân nghèo. Vì thế trình độ còn hạn chế, thậm chí các cán bộ UBKC cũng mới đi học bình dân học vụ xóa mù.
Lúc đó “tinh thần cách mạng” đang dâng cao, nên người ta coi những phong tục đó là mê tín dị đoan. Những luật lệ quy tắc trong Bản Hương Ước của chế độ cũ cần được xóa bỏ, dân nghèo “đấu tố giết hại địa chủ” trong phong trào cải cách ruộng đất … Cũng vì thế nên nhiều công trình tâm linh đã bị xâm hại phá bỏ, hoặc bỏ hoang (điều này cũng không phải chỉ có ở Làng Vồm, mà các nơi khác cũng thế).
Hơn nữa từ năm 1960 phong trào hợp tác hóa cũng đang lên cao, nên đình làng Vồm trở thành nơi sinh hoạt của các tổ đổi công, rồi những năm sau đó biến thành sân kho phơi lúa và chứa thóc của hợp tác xã.
Thời thuộc Pháp làng Vồm cũng từng bị Pháp ném bom vào chợ làng cũng chẳng biết năm nào, thương vong là bao nhiêu! Chỉ được nghe các cụ già kể lại, chợ đang phiên họp đông thì máy bay ù ù xuất hiện, dân làng chẳng hiểu mô tê gì thì nghe tiếng bom nổ, hàng hóa vương vãi khắp nơi, nhiều nguời thân mình tan nát. Sau trận bom kinh hoàng đó, vì tiếc của và dân tình cũng đang nghèo đói nên nhiều người bất chấp sợ hải quay lại mót của, có người còn nhặt nhầm thịt người về nấu ăn?
Đến thời Nam Bắc chiến tranh, làng cũng nhiều lần bị bom Mỹ dội xuống một phần gần tọa độ lửa Hàm rồng, cây cầu huyết mạch trên tuyến đường Bắc Nam. Mặt khác các cơ quan sơ tán về đây rất đông như: Cơ khí tỉnh, trạm quân y 66, người miền Nam tập kết ra ở … ở chân núi Nành còn có cửa hàng bách hóa huyện, cửa hàng mua bán xã và lúc đó chợ Vồm ở trung tâm làng cũng được chuyển xuống xóm núi. Dưới chân núi Bàn A có cửa hàng vật liệu, tàu thuyền hàng hóa tấp nập dưới sông. Hợp tác xã tổ chức đội bốc vác rất đông, hàng hóa đươc bốc lên dở xuống rất nhộn nhịp.

Năm 1965, vào lúc gần sáng khi mọi người còn đang nồng say trong giấc điệp, thì bỗng từ đâu máy bay gào thét trên đầu, và tiếp theo là những tiếng nỗ chát chúa của bom dội xuống từ ao họ Phạm kéo rê theo một loạt địa điểm trận địa chiến lược ở các xứ đồng như: Đồng nành, Thượng điền, Bờ ao, Bải cát … thật là kinh hoàng, nhưng cũng thật là may mắn vì trận bom năm ấy không dội vào khu dân cư, nên dân làng Vồm không một người xây xát, chỉ có một số nhà hư hỏng nhẹ … riêng chỉ có một quả được cho là rơi trên bờ vào nhà một bà Đội trưởng có chồng đi B, bom cưa gảy mấy cây đòn tay, chiếc giường bà đang ngủ bị dựng nghiêng lên bom chui xuống đất nhưng lại tịt ngòi vì vậy bà vẫn bình an vô sự …

Một làng có 19 Quận Công! Nơi địa linh nhân kiệt!!!
Tương truyền rằng đất này là nơi phát tích của ông quận công thứ 19 Lê Hy (Đông Khê- Huyện Đông Sơn) ???!!!
Có bài vè nói về ông quận công thứ 19 được truyền qua nhiều thế hệ người dân làng Vồm. Nhưng độ chính xác chưa được kiểm chứng!!! (Xem cuối bài này). Bài vè LÀNG TA và Tể tướng LÊ HY là một bài thơ u hoài, cảnh đấy người đâu luống dặm trường. Một câu hỏi không lời đáp, cho một nỗi buồn man mát xuyên suốt nhiều thế kỷ (chẳng dân nào “quý’’ bằng dân làng Vồm) cách nay hơn ba trăm năm rồi, ấy vậy mà khi dân làng Vồm ở khắp nơi trên thế gian này mỗi khi nhắc đến vẫn còn nhói đau, vẫn man mác hoài niệm, chẳng thể nguôi ngoai nỗi đau trần thế. Đau không phải vì lổi lầm của quan dân làng thời ấy, với nhân tình thế thái, mà đau vì cái đất địa đồ phong thủy của quê hương đại phú, đại quý đã đổi thay.
Một câu hỏi về ngài quận công thứ 19 người làng Vồm có liên quan gì đến tiến sĩ Lê Hy hay không? Trước hết chúng ta đi tìm trong quốc sử về lai lịch ngài tể tướng Lê Hy.
Lê Hy có tên hiệu là Trạm Khê, sinh năm 1646 và mất năm 1702. Quê ngài ở tổng Thạch Khê huyện Đông Sơn (nay là làng Thạch Khê, xã Đông Khê, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Năm 1664 (Giáp thìn) ông 18 tuổi đỗ đồng tiến sĩ xuất thân đời vua Lê Huyền Tông. Làm quan đến chức Thượng thư (như tể tướng) sau thăng lên Tham tụng, trông coi cả Trung phủ gián, được phong tước Lai Xuân Bá, ông từng đi sứ sang nhà Thanh. Ngoài ra ông còn là một văn sĩ, một sử gia. Ông còn làm thơ trong đó có bài thơ tiễn Đặng Đình Tướng đi sứ.
Khoảng năm 1697 nhận lệnh của vua Lê hy Tông và chúa Định nam Vương Trịnh Căn ông tham gia soạn Đại việt Sử ký tục biên từ đời Lê Huyền Tông đến đời Lê gia Tông (1663 – 1705) và viết tựa cho sách ấy. Ông mất năm 1702 thọ 56 tuổi.
Căn cứ vào đâu để nói rằng ông là quận công thứ 19 người làng Vồm? Khi mà gia phả các dòng họ ở làng Vồm hàng ngàn năm dựng làng mở ấp thất tán, không thể chứng minh được gì nhiều. Một số họ lớn trong làng như họ Trần, họ Lê, họ Nguyễn, họ Phạm … đến đây lập nghiệp lâu đời có chép được gia phả nhưng cũng hư hỏng không đầy đủ, hoặc giả khi thành Tư Phố di dời về Thọ Hạc, một số dòng họ danh gia vọng tộc cũng bốc cả gốc rễ di chuyển theo về đô thị làm ăn sinh sống, rồi thất tán tứ phương. Bây giờ chỉ còn đi tìm câu trả lời trong huyền thoại dân gian mà thôi. Đúng sai thực hư đều là giả sử, không có cơ sở gì kiểm chứng. Giai thoại truyền khẩu chỉ còn lưu trong ký ức từ đời này qua đời khác. Nhưng cái được nhiều hơn cả là tính nhân văn …

Không biết phải bắt đầu từ đâu và từ thời nào. Nếu tính từ thời ông Vồm đấu vật với ông Bưng Lê Phụng Hiểu thì mốc là cuối thời Đinh đầu thời Lý. Làng Vồm tuổi cũng đã có ngót nghét ngàn năm. Nhưng cứ đời này đến đời khác các thế hệ người làng Vồm đều kể lại cho con cháu nghe và tự hào về một làng có đến 18 vị quận công … nhưng để lý giải cụ thể ở dòng họ nào, vào thời nào, thì không ai có câu trả lời chính xác. Duy chỉ có họ Trần Xuân có nói đến ông tổ là Trần Xuân Phụ được vua phong quốc lão Quận công vào năm nào cũng không rõ, nhưng khoảng trên dưới 300 năm. Còn các họ khác như họ Nguyễn, họ Phạm, họ Lê thì chưa có cơ sở chúng minh. Chỉ có gần đây trong Lịch sử Đảng bộ Thiệu Khánh có tìm thấy 6-7 ông Hương Cống người Đại khánh (trước đây còn có tên gọi xã Đại Khánh).

Bây giờ chúng ta giải mã bài thơ lục bát như một bức họa đồ, một khúc ca bi ai được lưu truyền trong dân gian. Thực ra đây là khúc ca vô đề của một tác giả khuyết danh … mở đầu bằng việc tả cảnh khắc họa một vùng quê nông thôn Đại khánh trù phú:

“Làng ta có đất địa đồ
Có sông tắm mát có hồ hoa sen
Đôi bên trái núi song tuyền
Đền từ đằng trước Chùa chiền đằng sau
Khen ai khéo tạc cơ màu
Trước nghè lại có cái cầu gỗ lim …
(Một bức họa dư địa chí làng Vồm – Đại khánh được tái hiện thật rõ nét & sinh động. Người xưa miêu tả nhẹ nhàng, nhưng thật tinh tế với sông núi hữu tình, làn nước sông vừa mát vừa trong thỏa sức vẫy vùng và đâu đó từ Hồ sen rộng mênh mông bát ngát thoảng gió đồng nội, hương thơm dâng lên ngào ngạt. Đền từ đằng trước, chùa chiền đàng sau, chiếc cầu gỗ lim phía trước, nghè Đức Ông vững trải bắc qua một bến nước trắng lấp lánh ánh bạc thuyền bè neo đậu, phía trên mờ xa là nghè Bà huyền ảo lung linh. Tạo hóa và con người cùng sắp đặt vẽ nên một bức tranh thủy mặc thật kỳ thú, sơn thủy hữu tình, mà có lẽ chỉ thấy trong cung Vua, Phủ chúa thời bấy giờ mà thôi. Rồi ở cái thế núi sông hùng vĩ ấy cũng sinh tình, phát tướng, làm đắm say, kéo níu bao vương tôn khanh tướng, mặc khách, văn nhân hội tụ về vịnh phú đề thơ).

… Kẻ qua người lại trông xem
Đất này đắc địa phát liền Quận công
Trước hồ có núi Bàn Cung
Tạc bia đôi chữ Thánh Chung rõ ràng
Trong làng phú thịnh giàu sang
Có đôi ba chữ thếp vàng treo đây …
(Một làng quê trù phú sang giàu được vẽ lên bởi ở một nơi đắc địa, Bàn Cung tạc nên hai chữ Thánh Chung thật rõ ràng sáng láng và trong cái làng Đại Khánh kia đã phú thịnh rồi lại còn giàu sang nữa thì hỡi ôi! bao nhiêu hoành phi câu đối dẫu chỉ là đôi ba chữ thôi đều được sơn son thếp vàng mà treo dọc treo ngang mới xứng tầm là làng có nhiều danh gia vọng tộc).

… Có quan tiến sĩ ta nay
Bỏ đi từ thuở những ngày còn thơ
Bây giờ gươm giáo trống cờ
Thuyền bè súng ống ghé vô Bến Tuần
Truyền Quan đội, lệnh chư Quân
Có tờ tin tức cho dân tỏ tường
Dân rằng dân chẳng vội vàng
Dù người có được Quan sang mặc tình …
(Trời ơi! một ông quan trạng tiến sĩ vinh quy bái tổ về làng mà sao lại bẻ bàng đến vậy? Thuyền Quan đã cập bến Tuần có tờ tin tức, mà dân làng Vồm cứ thờ ơ, chẳng kẻ đoái hoài, coi Ngài như người khách xa lạ qua đường, nhân tình thế thái khinh khi coi thường đến thế là cùng. Vì sao vậy? Chuyện kể rằng: Làng Vồm thuở ấy có một gia đình người họ Lê tứ cố vô thân sống cuộc đời lam lũ, làm thuê cuốc mướn, chẳng có mảnh đất cắm dùi, quanh năm lao khổ mà chẳng đủ ăn, nhưng nhờ trời vợ chồng ấy sinh hạ được cậu con trai mặt mũi khôi ngô, tướng mạo sáng láng thông minh, khi cậu còn rất nhỏ thì cha mẹ bệnh tật qua đời không nơi nương tựa, không ruột rà thân thích, cậu thành đứa trẻ mồ côi … Bởi còn quá nhỏ nên cậu chưa làm được gì để nuôi thân trên quê hương mình, nên phải đi tha phương cầu thực khắp nơi xin ăn qua ngày. Rất may lần đó cậu đến một làng ở huyện Đông Sơn có một cái chợ khá lớn người ta đồn là “Mau Dũn”, trong lúc đi xin ăn cậu được một ông chủ tốt bụng động lòng trắc ẩn nhận cậu về giúp việc vặt trong nhà, thế là cậu thành gia nhân cho nhà ông phú hộ. Lại nói về nhà ông phú hộ giàu có nỗi tiếng một vùng, ông này nuôi riêng một ông thầy đồ có tiếng hay chữ và đức độ dạy học cho con trai mong muốn phát đường quan lộc làm rạng danh tổ tiên. Cậu ở đợ này được giao các việc vặt trong nhà, cậu bé rất chịu thương chịu khó, ngoan ngoãn, tranh thủ làm hết mọi công việc được giao. Đến giờ thầy đồ dạy học cho cậu chủ, cậu mon men lại gần lén nghe học lõm, vạch chữ xuống đất rồi lẩm nhẩm đọc theo. Một ngày nọ ông thầy đồ nhìn thấy cậu đang lấy que làm bút, đất dưới chân cậu làm sách mãi miết viết chữ thì vô cùng ngạc nhiên và thán phục cậu bé có trí … Ông vờ thử hỏi cậu dăm câu, cậu không những trả lời lưu loát mà còn có nghĩa khí, thì ông nhận thấy thực sự đây là một tài năng nếu được học hành chu đáo ắc sẽ thành danh giúp dân giúp nước, ông đem lời nhận định tương lai của thằng bé mà nói chuyện với ông phú hộ, hơn nữa cậu bé con ông chủ học hành tối dạ chậm hiểu nếu có bạn học cũng sẽ vui hơn mà tiến bộ chăng. Nghe thầy đồ nhân hậu giải trình có tình có lý, ông phú hộ bằng lòng cho cậu cùng theo học ông đồ và nhận cậu làm nghĩa tử. Được thầy kèm cặp rèn giủa cộng với tư chất thông minh bẩm sinh, chẳng mấy chốc cậu làu thông kinh sử … Năm tháng cứ thế dần trôi, cậu mỗi ngày thêm trưởng thành, đi thi hương, thi hội, rồi thi đình. Đến năm mười tám tuổi cậu đỗ Đại khoa đồng Tiến sĩ. Khi đỗ đại khoa cậu không về ngay quê bố nuôi vì nỗi nhớ quê cha đất tổ da diết thúc giục cậu … Bởi là một nho sinh đỗ đạt thì cậu hiểu hơn ai hết cái đạo lý uống nước nhớ nguồn: “Cây hẳn có gốc, nước hẳn có nguồn, con người phải có tổ tiên, nếu không có tổ tiên thì thân ta từ đâu mà đến?” Vì thế cậu muốn được về quê củ vinh qui bái tổ, trước là tri ân tiên tổ và sau cũng để được mát mặt với bàn dân thiên hạ, chia sẻ niềm vui với cố hương bản quán … Nhưng! có lẽ đó là một việc làm sai lầm nhất trong cuộc đời của ngài tân tiến sĩ. Bởi ngài cũng chẳng còn lạ gì một cái làng vốn dĩ đã phú thịnh giàu sang, lại có rất nhiều các vị Quận công xênh xang mũ áo vào hàng danh gia vọng tộc, thì sự coi thường khinh khi, ghen ghét những người có xuất thân hèn mọn kém cõi như ngài cũng là điều dễ hiểu vào thời điểm đó. Ngày vinh quy bái tổ của ngài sau nhiều năm lưu lạc trở về là sự cay đắng tủi hổ ê chề, bởi khi đến bến Tuần ngài đã có tờ tin tức như thông báo khẩn mà dân thì chẳng vội vàng, dù người có được quan sang mặc tình. Đau đớn uất hận ngài nỗi cơn thịnh nộ lôi đình, muốn phá tung đào bới triệt phá một cái gì đó cho hả dạ, để rửa nhục và cũng làm cho quan dân làng này biết tay. Với trí tuệ siêu phàm của mình thì ngài biết phải làm gì …)

… Quan nghe nỗi trận lôi đình
Sai quân đào núi thất tinh đắp đàng
Làm cho tuyệt lối quan sang
Lấp khe nước chảy cho làng biết tay
Làm cho liền phận liền ngay
Làm cho trông thấy đất này quả nhiên
Làm cho trông thấy nhãn tiền
Quân quan ta đẩy mũi thuyền ta đi
Dân mà bội bạc viền chi
Thời ta vô Rũn ta đi thị cầu …
(Còn cái giận nào hơn thế nữa chăng? Bến tuần nơi ngài đậu thuyền rất gần chùa Vồm và quanh khu vực này được các pháp sư xem như một huyệt đạo phong thủy được xem là đắc địa nhất làng. Thời đó Chùa Vồm có tên là Đại Khánh tự, chùa được làm trong động dưới chân núi Bàn A, hậu cung được đục liền vào vách đá, trên vách đá các nghệ nhân xưa tạc một bức phù điêu tượng đức Phật thiền định, có kích thước khổng lồ (nhiều người lầm tưởng là tượng ông Vồm). Tượng có chiều cao tới gần mười sáu thước, chiều ngang cũng không dưới tám thước ta. Đó là một trong những bức tượng phù điêu khắc trực tiếp vào vách núi to lớn và đặc sắc vào bậc nhất nước Đại Việt thời bấy giờ. Phía trước chùa có bảy cái gò nỗi trông như một chùm sao mà các thầy địa lý gọi là “thất tinh quang”, nghĩa là bảy vì tinh tú sáng án ngữ. Xa hơn một chút là núi Hộ sau đổi thành Tiên Sơn trông thế như hổ phục … bên hữu chùa là khe nước chảy trên đường Hạ Mã mà các thầy địa lý coi như là cái mạch lưu thủy tụ khí phát đường làm quan lại, tướng lĩnh, cho con dân đất này bền vững và lâu dài. Nhưng than ôi! Trong cơn uất ức, tuyệt vọng đến cùng cực, sân si nỗi loạn, Ngài đã làm một điều mà các bậc quân tử phải hổ thẹn với đất trời … và quan dân làng Vồm sau vụ việc ấy cũng ngậm hận thiên thu … Giai thoại còn kể lại rằng: Cả giận mất khôn, lúc đó ngài như có quỷ dẫn đường ma chỉ lối, như tà tâm của kẻ tiểu nhân … Vì chỉ trong một đêm, ngài đã cho quân lính san phẳng thất tinh cồn, đắp con rạch như nhát chém tuyệt tình, rồi ngài cho quân sĩ lấp luôn cái khe nước chảy, yểm vào cái mạnh nước thiêng tịt đường phát quan lộ, làm mất cái thế đắc địa của cả một làng vốn phát đạt đến cực thịnh trên nhiều lĩnh vực. Bấy giờ người ta còn đồn ngài có tà thuật của một pháp sư biết được phong thủy, gọi và sai khiến được cả âm binh tham gia hành sự, nên sự việc chỉ xảy ra trong vòng có một đêm, sáng mai khi dân làng tỉnh dậy thì mọi việc đã được an bài và ngài đã rút đi một cách lặng lẽ êm thấm, mà chẳng xảy ra bất cứ cuộc đụng độ cản trở nào. Ngược dòng sông Lường ngài dẫn đoàn tuỳ tùng đi vô Rũn huyện Đông Sơn là đường viền nhà, là quê hương cha nuôi đã có công dưỡng dục, cho ngài ăn học thành tài).

… Về nhà tiến ngựa ta đi
Mở mang địa phận dân thì được ơn
Đi cho khắp huyện Đông sơn
Chẳng dân nào “quý’’ bằng dân làng Vồm
Đi ra lập trại đóng đồn
Sống nhờ đất khách, chết chôn quê người
Ở đâu cũng gạo cũng tiền
Dân mà bội bạc còn viền làm chi …
(Lại nói về quê cha nuôi có công dưỡng dục ngài tiến sĩ. Đó là một làng quê thuần nông chất phác như bao vùng quê khác, một vùng quê người dân quanh năm lam lũ với ruộng đồng, giao thương buôn bán chỉ có cái chợ Dũn là được nhiều người biết đến. Nay được tin con nuôi ngài phú hộ đỗ quan tiến sĩ vinh quy về làng thì dân tình mừng lắm, cả làng mở hội linh đình đón rước tân quan tiến sĩ. Trống dong cờ mở, long trọng tôn kính với đầy đủ các nghi thức lễ nghĩa … và từ đó quê hương Thạch Khê xã Đông Khê huyện Đông sơn có thêm một dòng họ Lê danh giá).

Nhiều năm sau đó ngài ra làm quan phò vua giúp nước có nhiều công lao to lớn được phong tước hầu Lai Xuân Bá và làm đến chức quan thượng thư (như Tể Tuớng) trong triều đình nhà Lê. Con cháu dòng họ Lê làng Thạch Khê xã Đông Khê trở thành dòng họ danh gia vọng tộc, nhiều đời có người có học vấn khoa bảng đỗ đạt thành danh, có nhiều công lao đóng góp cho đất nước. Dòng họ Lê và dân làng xã Đông Khê quê hương thứ hai của Ngài phát triển ngày càng hưng thịnh …
Còn làng Đại Khánh thì ngược lại, từ khi cái thế đất bị chắn lại, mấy vì tinh tú bị san phẳng, cái con rạch án ngữ trước chùa Vồm (bây giờ là con đê sừng sững) như một cái gạch cắt ngang, một nhát chém luôn rỉ máu, vượng khí chẳng còn, cái mạch ngầm sau chùa trên đường Hạ Mã bị yểm tịt vòi chẳng còn lưu thủy được nữa, kinh tế sa sút dần không còn được thịnh vượng như xưa, con em học hành chẳng còn đỗ đạt khoa bảng nữa, quan trường vắng bóng, nhân tài như lá mùa thu.
Hởi ơi! Một làng có phong cảnh hữu tình đẹp nhất nhì xứ Thanh, có phong thủy đắc địa đại phú, đại quý bỗng bị trấn trạch phá tướng tứ tung mất hết linh thiêng, chỉ vì cái “bạc bẻo tình người” của dân “quý” làng Vồm – Đại Khánh …
Không phải là trông thấy nhãn tiền đâu! Mà sau này nhiều thế hệ con dân làng Vồm và cho đến ngày nay nghiệm ra vẫn còn rất đúng …
Thật tiếc thay … Bài vè LÀNG TA & Quận công thứ 19 có gắn với Tể tướng Lê Hy chợ Dũn, làng Thạch Khê xã Đông Khê, huyện Đông Sơn hay không? Vì giai thoại cũng vẫn chỉ là giai thoại truyền khẩu lưu truyền trong dân gian mà thôi.
(Theo Đặng Thắng)

Comments

comments

Share