dem300910-15

Hỏi đáp về Hà Nội 1000 năm Thăng Long

001.Hà Nội nghĩa là gì và địa danh Hà Nội bắt đầu từ bao giờ?

Sau khi diệt triều Tây Sơn, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên (vốn là đất đai kinh thành Thăng Long cũ) ra là phủ Hoài Đức và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc ngang với trấn tức trực thuộc trung ương mà đại diện là Tổng trấn Bắc Thành. Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), vua này liền tiến hành đợt cải cách hành chính lớn, xóa bỏ Bắc Thành (gồm 11 trấn và 1 phủ trực thuộc) ở miền Bắc và lập ra 15 tỉnh trực thuộc trung ương. Lúc đó phủ Hoài Đức trở thành một trong bốn phủ họp thành tỉnh Hà Nội. Danh từ Hà Nội bắt đầu có từ bấy giờ. Hà Nội nghĩa là phía trong sông. Vì thực tế tỉnh mới này trên đại thể được bao quanh bởi hai con sông Hồng và sông Đáy.

Bản đồ Thăng Long lúc mang tên Trung Đô (vẽ năm 1490)

Bốn phủ đó là: phủ Hoài Đức (gồm 3 huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm), phủ Thường Tín (gồm 3 huyện Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên), phủ Ứng Hòa (gồm 4 huyện Sơn Minh – nay là Ứng Hòa; Hoài An – nay là phía nam Ứng Hòa (gồm 4 huyện Sơn Minh – nay là Ứng Hòa; Hoài An – nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức; Chương Đức – nay là Chương Mỹ; Thanh Oai), phủ Lý Nhân (gồm 5 huyện: Nam Xang – nay là Lý Nhân, Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục). Như vậy, tỉnh Hà Nội lúc đó gồm thành phố Hà Nội, nửa phía đông tỉnh Hà Tây (chính là tỉnh Hà Đông thời Pháp Thuộc) và toàn bộ tỉnh Hà Nam. Rõ ràng, tỉnh Hà Nội đại bộ phận nằm kẹp giữa hai sông Hồng và sông Đáy.

Có người cho rằng chữ Hà Nội lấy từ câu sách Mạnh Tử (Thiên Lương Huệ Vương): “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ túc ư Hà Nội” (Hà Nội bị tai họa thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội). Nguyên ở Trung Quốc thời Mạnh Tử (thế kỷ thứ III tr.CN) phía bắc sông Hoàng gọi là đất Hà Nội, phía nam là Hà Ngoại. Vùng đất Hà Nội ấy nay ứng với tỉnh Hà Bắc. Lại do sông Hoàng khi tới địa đầu tỉnh Sơn Tây ngày nay thì chạy theo hướng Bắc-Nam, trở thành ranh giới của hai tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây. Sơn Tây ở phía Đông sông Hoàng nên thời cổ có tên là đất Hà Đông, còn Thiểm Tây là Hà Tây.

Thực sự cũng có việc dùng câu sách Mạnh Tử nói trên. Nhưng đó là trường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, người ta mới dùng để gọi tỉnh Cầu Đơ là tỉnh Hà Đông dựa vào cái tên Hà Nội đã có từ trước.

002.Vùng đất Hà Nội phải chăng đã đăng ký vào lịch sử với tên gọi đầu tiên là Tống Bình?

Giữa thế kỷ V (454 – 456), vùng Hà Nội được mang tên Tống Bình với tư cách là một huyện. Năm 545, Tống Bình mở rộng trở thành quận. Sau đó lúc thì thành một châu, lúc lại thành một huyện lớn, đến năm 627 huyện Tống Bình trở thành trị sở của Giao Châu. Năm 679, nhà Đường lập An Nam đô hộ phủ, đặt chức Kinh lược sứ An Nam quản 12 châu (từ Bắc Bộ vào Bắc Trung Bộ), trị sở cũng đặt tại Tống Bình. Vậy là từ thế kỷ thứ VII vùng Hà Nội đã trở thành trung tâm đất nước ta ngày ấy.

003.Hà Nội đã qua bao lần đổi tên (lấy mốc thời gian từ 1010 đến nay)?

Hà Nội đã qua nhiều lần đổi tên. Năm 1010, lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, đổi tên là thành Thăng Long, về hành chính thì đặt phủ Ứng Thiên, năm 1015 đổi gọi là Nam Kinh. Cuối đời Trần, vào năm 1397, Hồ Quý Ly ép vua Trần Thuận Tông dời đô vào Thanh Hóa đóng ở thành mới xây gọi là Tây Đô. Năm 1400, Hồ Quý Ly giành ngôi vua vẫn đóng ở Tây Đô, do vậy Thăng Long trở thành Đông Đô. Từ năm 1407 đến 1427, Đông Đô bị quân Minh chiếm đóng, chúng đổi tên là Đông Quan. Năm 1428, Lê Lợi giải phóng Đông Quan, đến năm 1430 đổi tên thành Đông Kinh. Tuy vậy cái tên Thăng Long vẫn được dùng. Đời Lê Thánh Tông, thành Đông Kinh tức kinh đô Thăng Long được gọi là phủ Trung Đô rồi phủ Phụng Thiên. Đời Tây Sơn đóng đô tại Phú Xuân (Huế) gọi Thăng Long là Bắc Thành. Đời Nguyễn Gia Long vẫn gọi là Bắc Thành nhưng đổi phủ Phụng Thiên ra là phủ Hoài Đức. Năm 1831 Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội gồm 4 phủ: Hoài Đức, Ứng Hòa, Thường Tín, Lý Nhân và tỉnh ly đóng ở phủ Hoài Đức tức thành Thăng Long cũ, do đó Thăng Long cũng được gọi là Hà Nội. Cái tên này được giữ cho tới tận nay. Thời Pháp thuộc, bên cạnh tên Hà Nội, thành phố còn được gọi là Hà Thành nhưng tên gọi này không thông dụng.

005.Tòa thành cổ nhất Việt Nam trên đất Hà Nội là thành nào?

Đó là thành Cổ Loa nay thuộc địa phận xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

Thành do An Dương Vương xây dựng vào khoảng thế kỷ III tr.CN. Đây là tòa thành đắp bằng đất, tương truyền có tới 9 vòng xoán trôn ốc, do đó gọi là thành Ốc. Ngày nay, dấu tích còn lại của thành Cổ Loa chỉ còn có ba vòng. Chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km. Lũy thành cao trung bình từ 4 đến 5 mét, có chỗ cao tới 12 mét. Các cửa của ba vòng thành được bố trí không nằm trên một trục đường thẳng mà lệch chéo đi nhiều phía, có 18 ụ gò nhô cao để phòng ngự. Đây được coi là công trình quân sự đầy sáng tạo và kỳ vĩ của dân tộc ta. Cổ Loa được coi là Kinh đô thứ hai của Việt Nam, sau Phong Châu ở Phú Thọ là Thủ đô của thời các vua Hùng.

Thành Cổ Loa còn một lần nữa trở thành Kinh đô. Đó là vào năm 939 – dưới thời Ngô Quyền. Tháng 12-938 quân Nam Hán vượt biển tiến vào xâm lược nước ta, Ngô Quyền đã bố trí một trận địa cọc trên sông Bạch Đằng và tiêu diệt gọn quân xâm lược. Sau chiến thắng, Ngô Quyền xưng vương và định đô lại Cổ Loa, chấm dứt ngàn năm Bắc thuộc.

006.Thành Đại La được xây dựng vào thời gian nào?

Năm 757 Kinh lược sứ nhà Đường là Trương Bá Nghi đã cho đắp La Thành (tại Tống Bình) bao quanh phủ thành đô hộ, nhưng thành này chỉ cao vài thước, nhỏ hẹp. Các viên đô hộ Triệu Xương, Bùi Thái có mở rộng ra. Đến năm 808 Trương Châu tu sửa lớn, gọi là An Nam La Thành, tường thành cao khoảng 6,8m, có ba cửa thông ra ngoài: cửa đông và cửa tây, mỗi cửa có ba ngăn, cửa nam có năm ngăn. Năm 866, viên Tiết lộ sứ Cao Biền đã cho đắp rộng An Nam La Thành, gọi là thành Đại La. Thành Đại La theo ghi chép của sách Việt sử lược có chu vi gần 2000 trượng tương đương 6000 mét, cao 2 trượng rưỡi tương đương 8m, chân thành cũng rộng như vậy. Bốn mặt có 55 vọng canh, 5 tháp canh… Tuy vậy, vị trí thành Đại La ngày nay chưa xác định được. Đê La Thành và đường Đại La hiện nay ở phía nam nội thành Hà Nội không phải là dấu vết thành Đại La đời Cao Biền mà chỉ là dấu viết những tòa thành được đắp trong các thời đại Lý, Trần, Lê mà thôi.

007.Người khai sinh ra kinh thành Thăng Long là ai?

Đó là Lý Công Uẩn (974-1028), tức là vua Lý Thái Tổ, người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang, nay là xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Không sử sách nào chép rõ về gốc tích gia đình ông. Truyền thuyết kể rằng thuở nhỏ ông làm con nuôi Lý Khánh Văn. Lớn lên, nhờ tài năng, trở thành một nhân vật quan trọng trong triều đình nhà Tiền Lê với chức Điện tiền chỉ huy sứ. Năm 1009, khi vua Lê Ngọa Triều chết, ông được số đông quan lại, nhà sư và tướng lĩnh ủng hộ đưa lên ngai vàng, lập ra nhà Lý.

Trong ngót 20 năm làm vua, Lý Công Uẩn đã có một số đóng góp tích cực đối với lịch sử: dời kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, mở ra một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa mới cho đất nước; đặt nền móng xây dựng vương triều Lý thịnh trị, trên cơ sở đó nâng cao hơn tư thế độc lập, tự chủ, cũng như khẳng định bản lĩnh và truyền thống lịch sử lâu đời của Tổ quốc, củng cố khối thống nhất dân tộc bằng cả quân sự lẫn chính trị.

008.Ai là người đầu tiên dựng thành lũy chống giặc ngoại xâm tại nội thành Hà Nội?

Đó là Lý Bí, còn gọi là Lý Bôn. Ông quê ở Thái Bình (về địa điểm Thái Bình đang được tranh luận, chưa ngã ngũ là tỉnh Thái Bình ngày nay hay vùng Sơn Tây thuộc tỉnh Hà Tây).

Xuất thân từ một hào trưởng địa phương, tháng 2 năm Giáp Tý (544) sau khi đánh bại quân xâm lược nhà Lương, Lý Bí tự xưng đế lấy hiệu Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đặt kinh đô ở Long Biên (hiện nay cũng chưa biết đích xác Long Biên là vùng nào). Năm 545, nhà Lương dồn sức mở cuộc tấn công xâm lượng nước Vạn Xuân, Lý Bí cho xây dựng một tòa thành bằng gỗ ở cửa sông Tô để chống giặc. Như vậy đây là công trình quân sự đầu tiên ở vùng Hà Nội cổ. Việc Lý Bí đặt tên nước là Vạn Xuân, tự xưng hoàng đế, định niên hiệu, lập triều đình riêng ngang hàng với nước lớn phương Bắc là sự khẳng định quyền độc lập và hy vọng bền vững muôn đời.

009.Có phải ở đời Lý có một phụ nữ thay vua trị nước?

Đúng, đó là bà Ỷ Lan (? – 1117), tương truyền tên là Lê Thị Khiết, hoặc Lê Thị Yến hay Yến Loan. Có thể bà sinh năm Giáp Thân 1044. Nguyên quán tại trang Thổ Lỗi (hương Siêu Loại), nay có thể là dải đất từ Như Quỳnh, huyện Mỹ Văn, Hưng Yên, tới Dương Xá, Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Bà là con nhà làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm.

Một sớm mùa xuân năm 1063, vua Lý Thánh Tông đi cầu tự ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), khi xa giá tới đầu trang Thổ Lỗi, nghe có tiếng hát rất quyến rũ trong nương dâu, vua xuống kiệu đi tới thì thấy một cô gái đang vừa hái dâu vừa hát. Vua hỏi chuyện, người con gái đối đáp thông minh. Đó chính là nàng Khiết. Vua truyền lệnh tuyển cô gái vào cung, gọi tên là Ỷ Lan (do tên này mà có một truyền thuyết khác cho rằng : khi kiệu vua qua Thổ Lỗi, thấy nàng Khiết đang tựa gốc cây lan). Trong cung, nàng được học hành và tỏ ra là người thông minh, hiểu biết. Khi sinh người con trai thứ nhất là Càn Đức, Ỷ Lan được phong là Thần phi, sinh người con thứ hai nàng được phong là Nguyên phi. Đến khi vua Lý Thánh Tông mất, Càn Đức lên nối ngôi, tức là Nhân Tông, bà được phong là Hoàng Thái Hậu.

Ỷ Lan đã hai lần nhiếp chính. Lần thứ nhất bà nhiếp chính để vua Lý Thánh Tông đi đánh giặc ở phương Nam. Nhưng nhà vua đánh mãi không được, phải dẫn quân về Mạt Liên – tức Tiên Lữ (Hưng Yên) bấy giờ. Khi biết triều đình ở nhà dưới quyền bà vẫn ổn định, vua liền quay trở lại và đã chiến thắng.

Lần thứ hai khi Lý Thánh Tông mất (1072), Nhân Tông mới 7 tuổi lên ngôi, bà nhiếp chính và đã cùng Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành lãnh đạo nhân dân đánh thắng giặc Tống xâm lược (1077).

Về nội trị, bà ban hành nhiều chính sách tiến bộ như cho chuộc nô tỳ, tha cung nữ, giảm tô thuế, cấm giết trâu bò cày… Bà sùng đạo Phật, xây dựng nhiều chùa tháp và thường đàm đạo với các tăng ni về giáo lý.

Tượng bà Ỷ Lan tại Bắc Ninh

010.Lý Thường Kiệt có phải là người Hà Nội?

Đúng! Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) chính gốc là làng Bình Sa, phía nam Hồ Tây. Đời Lý Công Uẩn, làng này được dời ra bãi sông Cái (tức sông Hồng) để lấy đất mở mang kinh đô. Từ đó bãi có tên là làng An Xá. Lý Thường Kiệt là người làng này. Sau đổi tên ra Cơ Xá. Nay Cơ Xá là tên gọi chung dải đất ven sông Cái, từ bắc cầu Long Biên xuống đến bãi Đồng Nhân.

Ông nguyên họ Ngô, tên Tuấn, tự là Thường Kiệt, sau được ban họ vua, thành ra Lý Thường Kiệt. Vào triều từ năm 23 tuổi, trải “chưa đầy một kỷ, tiếng nổi khắp nội đình”. Năm 1072, Thánh Tông mất, Lý Thường Kiệt tích cực giúp Nguyên phi Ỷ Lan và Lý Nhân Tông điều hành triều chính. Ông đã xây dựng sự đoàn kết trong triều và chuẩn bị lực lượng quân sự để đối phó với phương Bắc. Năm 1075, trước sự chuẩn bị xâm lược ráo riết và những vụ khiêu khích vùng biên giới của triều đình Tống, Lý Thường Kiệt chủ động tấn công, phá tan đồn lũy của các châu Khâm, Liêm, Ung, tiêu hủy phần lớn những căn cứ hậu cần của quân Tống. Năm 1077, ông lại tổ chức phòng tuyến sông Cầu, chiến đấu, đánh thắng cuộc xâm lược nước ta của nhà Tống.

Sau khi chiến thắng, Lý Thường Kiệt lo việc nội trị, tu bổ đê điều, đường sá, cải tổ lại bộ máy hành chính trong cả nước… Từ 1082- 1101, ông thôi chức Tể tướng vào trông coi trấn Thanh Hóa. Khoảng 1010, lại được gọi về triều. Những năm cuối đời ông còn cầm quân dẹp giặc quẫy nhiều biên thùy phía Nam… Ông được lịch sử ghi nhận là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giữ gìn độc lập của Tổ quốc ở buổi đầu thời tự chủ.

Văn nghiệp của Lý Thường Kiệt ngày nay chỉ còn được biết qua hai tác phẩm: một bài văn và một bài thơ. Bài văn Lộ bố khi đánh Tống (Phạt Tống lộ bố văn) còn lưu đến ngày nay là một trong số những bài hịch mà Lý Thường Lý Thường Kiệt đã gửi nhân dân các châu Ung, Khâm, Liêm vào năm 1075, trước khi đưa đại quân đến tiêu diệt các hậu cứ quân Tống ở đây. Bài văn nói rõ tính chính nghĩa của cuộc hành quân, vạch tội ác của triều đình Tống, đề cao lý tưởng lấy dân làm trọng, và tuyên bố rõ lập trường quang minh chính đại, không xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc, chỉ cốt diệt trừ âm mưu xâm lược của triều đình Tống.

Còn bài thơ – mà nay mọi người gọi tên là “Nam quốc sơn hà” – được coi là của Lý Thường Kiệt thì tính chính xác của xuất xứ, tác giả và văn bản cũng còn cần nghiên cứu thêm mới khẳng định được.

011.Phải chăng vua bà Lý Chiêu Hoàng có một nơi thờ duy nhất ở nội thành Hà Nội?

Đúng! Kỷ nguyên Đại Việt kéo dài bảy tám thế kỷ, trải từ đời Lý đến đời Hậu Lê mà chỉ có một đời vua bà. Người phụ nữ duy nhất làm vua đó trị vì thiên hạ tính theo năm là 2 năm nhưng thực tế chỉ có 12 tháng, từ tháng 10 năm Giáp Thân (1224) đến tháng 12 năm Ất Dậu (1225). Đó là Lý Chiêu Hoàng.

Tháng 12 năm Ất Dậu, do sự xếp đặt của Trần Thủ Độ, vua bà này (gọi là cô thì phải hơn vì mới 8 tuổi) lấy chồng và nhượng ngôi ngay cho chồng là Trần Cảnh – con trai thứ của Trần Thừa, anh Trần Thủ Độ – lúc đó cũng mới 8 tuổi. Ngôi vua từ họ Lý chuyển sang họ Trần một cách êm ả. Nữ hoàng Chiêu Hoàng trở thành hoàng hậu Chiêu Thánh.

Sau đó tới chục năm, hoàng hậu không sinh đẻ, nên một lần nữa, vì lo cho sự lâu dài của họ Trần, Thủ Độ lại ép Trần Cảnh phải bỏ Chiêu Thánh để lấy chị gái của bà là Thuận Thiên, vợ của Trần Liễu (anh của Trần Cảnh) và đang mang thai. Chiêu Thánh lúc này mới 20 tuổi!

Phải tới hai chục năm nữa hạnh phúc mới thật sự đến với bà. Số là năm 1258, sau khi dẹp được giặc Nguyên xâm lược, bà được gả cho vị tướng có công đầu trong cuộc chiến là Lê Phụ Trần. Họ sống với nhau thuận hoà, Chiêu Thánh sinh được hai con, một trai một gái. Bà qua đời năm 61 tuổi, tương truyền mái tóc vẫn đen và đôi má vẫn màu hoa đào.

Có lẽ vì những khúc quanh trong cuộc đời của bà như vậy mà ở quê gốc của họ Lý là làng Đình Bảng (Hà Bắc) đền Lý Bát Đế chỉ thờ 8 vị vua nam giới. Còn vị vua nữ cuối cùng này thờ riêng ở ngôi miếu nhỏ nằm khiêm tốn bên phải đền.

Tuy nhiên, Lý Chiêu Hoàng lại có nơi thờ ở giữa nội thành Thăng Long, đó là đền làng Yên Thành. Làng này là một trong số 8 làng có tên gọi bắt đầu bằng chữ Yên thuộc tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận xưa. Tám làng đó nằm kẹp giữa phía nam là tường thành Hà Nội (nay là phố Phan Đình Phùng), phía Bắc là hồ Trúc Bạch và hồ Mã Cảnh (Cổ ngựa), phía đông là chỗ giáp ranh phường Hoè Nhai, phía tây là ranh giới phường Thuỵ Chương. Đó là tám làng (theo vị trí từ Đông sang Tây): Yên Thuận, Yên Ninh, Yên Thành, Yên Viên, Yên Canh, Yên Diên, Yên Định và Yên Quang. Làng Yên Thành nay là khu vực có phố Phan Huy Ích, có đoạn Nguyễn Trường Tộ, một đoạn phố Hàng Bún. (Hồ Mã Cảnh thì bị lấp từ những năm cuối cùng của thế kỷ XIX để làm các phố mới nay là Nguyễn Khắc Nhu- Phạm Hồng Thái – Nguyễn Trường Tộ…)

Đến Yên Thành vốn là đình sau kiêm thờ mẫu, nay mang biển số nhà 28 Phan Huy Ích. Đây là một công trình kiến trúc khiêm tốn nhưng có nhiều hiện vật quý. Một khánh đá núi Nhồi (Thanh Hoá) có hoa văn đời Nguyễn. Một chuông đồng đúc năm Mậu Dần. Một bức hoành phi Thánh Cung vạn tuế chỉ rõ căn cốt là một ngôi đình làng. Ngoài ra, trong đền này còn có những câu đối có niên hiệu Tự Đức Bính Tý tức năm 1876:

Long Đỗ quyết linh từ, hưởng báo từ thời yên bất tuyệt
Mã Cảnh di thắng tích, lưu phương thiên cổ thuỷ trường

Nghĩa là:

Đền thiêng ở cửa ngõ thành Long Đỗ, việc dâng lễ báo ân bốn mùa khói hương chẳng dứt.
Thắng cảnh còn lại bên hồ Cổ Ngựa – tiếng thơm lưu truyền ngàn thuở, nước luôn trong nẻo.

Hoặc câu đối đời Tự Đức Kỷ Mão (1879):

Vạn cổ linh quang hồ thượng miếu
Thiên thu thắng tích nữ trung vương.

Nghĩa là:

Muôn thuở rạng rỡ linh thiêng là toà miếu bên bờ hồ (Cổ Ngựa).
Nghìn năm di tích nổi danh (Ngài) là vị vua trong giới nữ.

Những câu đối trên đã chỉ rõ địa điểm đền thờ (tức nay là phố Phan Huy Ích) nguyên là bên cạnh hồ Cổ Ngựa và là nơi thờ một vị vua bà. Đến Yên Thành như vậy là nơi duy nhất thờ Lý Chiêu Hoàng ở nội thành. Nếu kể cả vùng ngoại thành thì ở Hà Nội cũng chỉ có thêm một nơi nữa thờ bà. Đó là làng Giao Tự nay thuộc xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm. Tương truyền đây là đất thái ấp của bà.

012.Công việc trồng trọt, chăn nuôi, chài lưới của người Hà Nội thời kỳ tiền sử như thế nào?

Người Hà Nội ngày ấy trồng trọt, chăn nuôi và chài lưới. Trồng trọt chủ yếu là trồng lúa. Tại di chỉ Đình Chàng và Đường Mây (Đông Anh) đã tìm thấy vết tích của vỏ trấu. Trong lòng đất có nhiều di vật như rìu đá, rìu đồng là những công cụ giúp dân khai phá rừng hoang mở rộng đồng bằng. Ở Gò Chùa Thông (Thanh Trì) tìm thấy lưỡi liềm đồng. Đó là bằng chứng về một nền nông nghiệp phát triển sớm của vùng Hà Nội cổ. Lưỡi cày đồng thấy ở Cổ Loa, có kích cỡ lớn, tác dụng lật đất tốt. Hàng loạt xương trâu, bò, chó nhà, lợn nhà… tìm được ở Đồng Vông, Đình Chàng (Đông Anh) và Gò Chùa Thông cho thấy một nền nông nghiệp dùng cày, có sức kéo của trâu bò. Ngoài đồng lúa, còn có trồng đậu, khoai lang, các cây ăn quả như: na, trám… Chăn nuôi cũng đã trở thành loại hình kinh tế quan trọng. Những dòng sông chảy ven làng mang lại cho đời sống chảy ven làng mang lại cho đời sống người dân ở đây một nguồn cá tôm đáng kể. Đây chính là cơ sở cho nghề chài lưới phát triển. Nhiều chì lưới bằng đá, đất nung, vết tích sau bữa ăn như xương cá đã tìm thấy ở Đồng Vông (Đông Anh).

013.Hà Nội có những di vật đồ đá đúng không?

Đúng! Di vật đầu tiên phải kể đến là những viên đá cuội có dấu vết ghè đẽo của bàn tay con người tìm thấy ở xã Cổ Loa (huyện Đông Anh). Đây là những công cụ chặt, nạo của người nguyên thuỷ sống ở cuối thời đại đồ đá cũ cách ngày nay khoảng hai vạn năm. Ngoài ra còn có nhiều di vật bằng đá khác ở các thời kỳ muộn hơn như: lưỡi rìu có nhiều loại tìm thấy ở Văn Điển, Triều Khúc (huyện Thanh Trì) được mài sắc và nhẵn dùng để phát cây phá rừng, lưỡi đục tìm thấy ở Văn Điển, Đồng Vông, Tiên Hội (huyện Đông Anh). Đây là những công cụ dùng trong nghề mộc để dựng nhà, đóng thuyền. Chì lưới được làm bằng đá tìm thấy ở Đồng Vông, Bãi Mèn, Đình Chàng (huyện Đông Anh). Ngoài ra, còn nhiều di vật khác như mũi khoan, bàn mài, vũ khí như giác đá, mũi tên đá và khá nhiều đồ trang sức và các tác phẩm nghệ thuật như: vòng đeo tay, vòng tai, nhẫn, chuỗi hạt đeo cổ, cúc áo, tượng người đầu trâu… tìm thấy ở Văn Điển, Triều Khúc, Đình Chàng.

014.Trên đất Hà Nội ngày nay có dấu tích của một người anh hùng truyền thuyết đầu tiên chống giặc ngoại xâm, đó là ai?

Đó là chàng Dóng, được tôn vinh là Phù Đổng thiên vương, quê quán ở làng Dóng, tức làng Phù Đổng nay thuộc huyện Gia Lâm – ngoại thành Hà Nội. Theo truyền thuyết, vào đời Hùng Vương thứ 6, giặc Ân kéo sang xâm lược nước Văn Lang. Nhà vua lo lắng cho sứ giả đi rao tìm người tài giỏi ra giúp nước.

Lúc bấy giờ ở làng Phù Đổng, có một cậu bé lên ba tuổi mà vẫn chưa biết nói. Khi sứ giả đến làng, cậu bé bỗng nhỏm dậy và bật nói, xin vua ban một ngựa sắt và một roi sắt để đi diệt giặc. Sau đó, Dóng lớn như thổi, một mình ăn hết 3 nong cơm, 1 nong cà và vươn vai trở thành một chàng trai dũng mãnh. Chàng cưỡi ngựa sắt dùng roi sắt đánh tan quân thù. Khi giặc tan chàng phi ngựa lên núi Sóc và bay lên trời. Nhờ công ơn chàng Dóng, dân làng đã lập đền thờ. Tại đây hàng năm có mở hội lớn, tục gọi là hội Dóng vào ngày 8-4 âm lịch, diễn lại tích Thánh Dóng dẹp giặc Ân. Hội rất hùng tráng thu hút hàng vạn người về xem.

015.Xin nói về lộ trình dời đô của Lý Thái Tổ. Ông đã đi đường nào để ra Thăng Long?

Trước hết, xin nhắc lại một đoạn trong bộ sử Toàn thư:

“Mùa thu, tháng bảy năm Canh Tuất (1010) vua dời đô từ thành Hoa Lư sang thành Đại La, thuyền tạm đỗ dưới thành, có rồng vàng hiện ra trên thuyền ngự do đó đổi gọi là thành Thăng Long”.

Như thế thì vua Lý đã đi bằng thuyền và vào cuối mùa hè, hẳn là ông lợi dụng mùa nước lên để không lo bị mắc cạn, cũng như mùa gió nồm để buồm căng, đỡ công chèo chống. Và một vị vua trí lự như Lý Công Uẩn thì không tội gì lại vòng vo đi ra biển qua cửa Đại An để rồi mới lên cửa Ba Lạt vào sông Hồng, cho dù ngày đó biển có gần nhưng cũng là xa xôi diệu vợi, lại thiếu an toàn. Ông tất đã chọn một lộ trình ngắn nhất, an toàn nhất. Do đó chỉ có dùng các đường sông quen nhất, an toàn nhất. Do đó chỉ có dùng các đường sông quen thuộc hiện hữu thời đó và phải là con đường ngắn nhất.

Sơ đồ các sông liên quan đến lộ trình dời đô của Lý Thái Tổ

Vua Lý đi thuyền, thế tất phải từ thành nội Hoa Lư theo dòng Sào Khê ra sông Hoàng Long (tất nhiên ngày đó Sào Khê và Hoàng Long chưa cạn và hẹp lòng như ngày nay). Từ Hoàng Long thuyền vua ra sông Đáy rồi ngược lên Bắc. Tháng 7 âm lịch, gió nồm, đi ngược sông không khó khăn gì. Tới chỗ nay là thị xã Phủ Lý gặp sông Châu. Kỳ thực, đây là một khu ngã tư sông, vì sông Đáy qua vùng chùa Hương chảy về tới đây thì đón nước sông Nhuệ từ phía cầu Giẽ chảy xuôi hoà nhập vào đồng thời tách ra sông Châu Giang. Như vậy, nước sông Châu là do cả sông Đáy, sông Nhuệ cung ứng. (Đây là viết theo mục “Sông Châu” trong phần “Hà Nội”của sách Đại Nam nhất thống chí. Song cũng sách này ở mục “sông Nhị” lại nói sông Nhị (tức sông Hồng) đến Yên Lệnh tách ra một nhánh là sông Châu. Như thế thì sông Châu cũng nhận nước sông (vấn đề cần tìm hiểu thêm). Kể ra thì có thể theo sông Nhuệ nhỏ hơn sông Hồng, lai nhiều khúc cong, giảm tốc độ lộ trình. Trong khi sông Hồng rộng rãi, cho nên theo sông Châu ra sông Hồng hợp lý hơn. Chỗ ngã ba sông Đáy- sông Châu đó nay là nơi giáp ranh ba đơn vị hành chính: phường Lương Khánh Thiện của thị xã Phủ Lý, Thôn Ba của xã Phù Vân (huyện Kim Bảng). Châu Giang nay là một con sông đang thoi thóp thở, vì nó không còn có thể gặp sông Hồng được. Trước đây, sông Châu là một con sông cũng khá lớn, nay cứ quan sát những vạt ruộng hai bờ sông sẽ thấy những nơi thấp, chính là một phần của dòng sông thời xưa. Sông chảy về phía Đông đổ ra sông Hồng không chỉ một nhánh. Từ Phủ Lý đến nơi giáp ranh xã Tiên Phong (huyện Duy Tiên) và xã Nghĩa Bình (huyện Bình Lục) sông Châu đúng chỉ là một nhánh. Nhưng từ đây tách làm hai. Một nhánh chảy ngược lên phía Bắc tới nơi giáp ranh hai xã Yên Nam và Trác Văn (Duy Tiên) thì quặt sang đông, đổ vào sông Hồng ở chỗ nay là xóm Tắc Giang, thôn Lỗ Hà, xã Chuyên Ngoại làm ranh giới chia hai huyện Duy Tiên và Lý Nhân. Một nhánh từ xã Bình Nghĩa chảy xuôi về Đông Nam làm ranh giới tự nhiên cho hai huyện Bình Lục và Lý Nhân để rồi đổ ra sông Hồng ở xã Hòa Hậu (Lý Nhân). Nay nhánh sông phía trên đã bị con đê đắp sau này chặn lại. Ở phía dưới cũng đã xây cống và trạm bơm. Nhưng cách đây nghìn năm thì sự thông thương trên sông là tất nhiên. Thuyền nhà Lý đã theo một trong hai nhánh sông Châu Giang để ra Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân và thị xã Phủ Lý nay đều thuộc tỉnh Hà Nam.)

Ra tới sông Hồng thì nhằm hướng Bắc mà thẳng tiến, theo độ dài sông nước ngày nay thì vào khoảng sáu chục kilomet là tới thành Đại La. Thực ra sông Châu là một huyết mạch quan trọng, tính từ thượng nguồn đây là con sông đầu tiên nối sông Hồng với sông Đáy. Trên triền sông là khu tự cư cổ, có hàng loạt trống đồng ở đó, như trống Ngọc Lũ, Vũ Bị, An Lão, lại có chùa Đọi là ngôi chùa lớn thời Lý.

Ngoài ra, sông Hồng ngày ấy cũng trọng yếu nên năm 981 khi tướng nhà Tống là Hầu Nhân Bảo xâm lược thì đã phái Trần Khâm Tộ đem chiến thuyền đến Tây Kết (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên) tức cách cửa sông Châu khoảng 20 km về phía Bắc. Có thể là Khâm Tộ đợi chiến thuyền Lưu Trùng đến rồi tiến đánh Hoa Lư bằng đường thủy qua sông Châu – sông Đáy. Năm 987 vua Lê Đại Hành từng đi cày tịch điền ở núi Đọi tất phải đi thuyền theo sông Đáy, sông Châu. Năm 1044, khi Lý Thánh Tông đánh chime cũng từ Thăng Long ra cửa sông Đáy để ra biển vào Nam tức cũng khởi hành từ sông Hồng. Lúc về ông có qua Hoa Lư, qua hành cung Ly Nhân, xây lại đất Ly Nhân bờ sông Châu (tên gọi ngày ấy của huyện Lý Nhân bây giờ), do vậy nên mới có chuyện nàng My Ê tuẫn tiết (Nay là làng Lý Nhân, xã Phú Phúc, huyện Lý Nhân còn đền thờ My Ê). Như vậy cũng theo sông Đáy – sông Châu ra sông Hồng.

Sông Hoàng Long – sông Đáy – sông Châu – sông Hồng, đó là lộ trình dời đô của Lý Công Uẩn.

016.Thời nhà Trần, Thăng Long mấy lần bị quân Nguyên chiếm đóng?

Cả ba lần quân Nguyên sang xâm lược nước ta, chúng đều có vào Thăng Long. Nhưng chính ở Thăng Long hoặc là chúng trực tiếp bị đánh bật hoặc là buộc phải rút bỏ.

– Lần đầu vào ngày 18-1-1258, Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai) theo đường sông Hồng từ Vân Nam xuống. Khi chúng tràn qua Thăng Long thì cả đô thành bị tiêu thổ, vườn không nhà trống.

Chiến lược đánh nhanh, cướp lương thực tại chỗ bị phá sản, 11 ngày sau (29-2-1258), quân ta phản công đánh vào Đông Bộ đầu nay là dốc Hàng Than. Quân giặc thua, rút chạy dài về Vân Nam. Trên đường tháo than, chúng đói và khiếp sợ đến nỗi không còn tinh thần để cướp bóc nên dân ta chế giễu chúng là “giặc Phật”.

– Lần hai, vào ngày 19-2-1985 sau nhiều trận đánh, Thoát Hoan (To-gou) mới vào được Thăng Long. Nhưng lại vẫn là vườn không nhà trống. Tiếp đó, giặc bị quân ta giáng cho những đòn chí tử ở A Lỗ, Tây Kết, Hàm Tử… và khoảng ba tháng sau, quân Trần tiến về Thăng Long, đánh đồn Giang Khẩu (khu vực Hàng Buồm – Nguyễn Siêu) buộc Thoát Hoan phải rút quân, chui vào ống đồng mới thoát chết.

– Lần ba, ngày 2-2-1288 Thoát Hoan chiếm Thăng Long. Vẫn là một ngôi thành trống trơn. Giặc đánh tỏa ra một số nơi nhưng không làm gì được vua quan tướng sĩ nhà Trần. Rồi nạn thiếu lương thực xảy tới. Thế là sau một tháng chiếm đóng, ngày 5-3-1288 giặc phải bỏ thành rút quân.

017.Nói Hà Nội có 5 cửa ô, đúng không?

Không đúng! Chỉ nói ngày nay, mọi người Hà Nội đều có thể nêu lên chí ít là 7 cửa ô: Ô Yên Phụ, Ô Cầu Giấy, Ô Chợ Dừa, Ô Đồng Lầm, Ô Cầu Dền, Ô Đống Mác, Ô Quan Chưởng.

Thực ra, cửa ô còn nhiều hơn.Nhưng trước hết cần thống nhất xem thế nào là cửa ô?

Sử ghi rằng vào năm 1749, chúa Trịnh Doanh cho đắp một toà thành đất bao bọc kinh đô Thăng Long, gọi là thành Đại Độ, có mở 8 cửa ô để qua lại. Chưa biết vị trí và tên gọi của 8 cửa này. Chỉ biết là mỗi cửa, ngoài ô cửa chính ở giữa, hai bên có hai ô cửa phụ. Vậy cửa ô là cửa xẻ qua toà thành đất bao bọc kinh thành Thăng Long. Đến đầu thế kỷ XIX, sách Bắc Thành địa dư chí cho biết Hà Nội có 21 cửa ô. Đến năm 1831, khi có bản đồ Hoài Đức phủ thì chỉ thấy còn 16 cửa ô. Đến bản đồ vẽ năm 1866 chỉ còn 15 cửa ô. Như vậy cho đến năm 1866 và cho đến tận đầu thời Pháp thuộc – trước khi thực dân cho phá toà thành này (cũng như phá toà thành gạch) để mở đường phố mới và lấy đất lấp các ao hồ – thì Hà Nội có 15 ô cửa, mỗi cửa ô có hình dáng như cửa ô Quan Chưởng còn sót lại tới ngày nay.

Thuở xưa ở mỗi cửa ô thường xuyên có lính gác. Năm 1782 Lê Hữu Trác từ Hà Tĩnh ra Hà Nội, đi qua cửa ô Cầu Dền có tả như sau:

“Thấy một toà thành đất, không cao lắm. Trên thành là đường xe ngựa đo. Ngoài là hàng rào tre. Dưới chân là hào sâu, có thả đầy chông. Thành có 3 vọng canh, nơi nào cũng có lính sắp hàng gươm dáo sáng quắc”

(Thượng kinh ký sự)

Thành Hà Nội thời Nguyễn với 16 cửa ô của thành ngoài vẽ năm 1831

Tóm lại Hà Nội có nhiều cửa ô, tuỳ từng thời, lúc mở thêm, lúc lấp lại và nay tên gọi để lại còn nhiều nhưng di tích một cửa ô thực sự thì chỉ có cửa ô Quan Chưởng là còn phần nào bóng dáng xưa mà thôi.

018.Tại sao lại gọi là Ô Quan Chưởng?

Cửa ô này nguyên là một trong số nhiều cửa xẻ qua thân toà thành đất bao bọc kinh đô Thăng Long. Toà thành này đã bị phá đầu thời Pháp thuộc, do đó các cửa ô cũng bị phá theo, chỉ còn sót lại cửa ô Quan Chưởng. Hiện cửa còn nguyên một ô cửa chính và hai ô phụ hai bên. Trên nóc ô cửa chính là một vọng lâu. Cửa ô vốn có lính gác. Bên tường phía Bắc hiện còn gắn một tấm bia khắc năm 1882 ghi lệnh của Tổng đốc Hoàng Diệu cấm lính sắc nhiễu những đám tang đi qua cửa ô (vì nếu không cho tiền chúng không mở cửa).

Còn tên gọi thì đến nay vẫn chưa thể giải thích chính xác vì có tới 3 giả thuyết nhưng đều thiếu chứng cứ:

1. Cho rằng cuối đời Lê có một quan Chưởng ấn lập dinh cơ ở cạnh ô nên do đó mà thành tên.

2. Cho rằng vào đời Nguyễn có một quan Chưởng cơ đóng ở gần cửa ô kiểm soát thuyền bè qua lại ngã ba sông Hồng – sông Tô, nên dân sở tại theo đó mà gọi tên.

3. Hồi Pháp đánh Hà Nội năm 1873 có một quan Chưởng vệ đã hi sinh tại cửa ô này trong chiến đấu.

Cả ba cách giải thích đều là truyền thuyết chứ không có tài liệu cụ thể.Có lẽ cái tên chính xác phải là hàng chữ Hán khắc trên vòm cửa hiện vẫn còn tồn tại: Đông Hà môn tức cửa Đông Hà. Đông Hà nguyên là một phường tương ứng khu vực Hàng Chiếu, Thanh Hà, Đào Duy Từ ngày nay. Cửa ô Quan Chưởng nằm trên đất phường Đông Hà.

019.Thế nào là “Hà Nội 36 phố phường”?

Nội thành Hà Nội hiện nay có 7 quận gồm 102 phường, tức 102 đơn vị hành chính cấp cơ sở với trên 400 phố và ngõ.

Nhưng đó là phường và phố Hà Nội hiện nay. Còn ca dao cổ có câu:

Hà Nội băm sáu phố phường.
Hàng Gạo, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh…

Câu ca dao đó nay ai cũng thuộc nhưng không chính xác!

Thực ra, phố và phường là hai phạm trù khác nhau.

Vào thời Lê, phường ngoài nội dung chỉ các tổ chức của những người cùng làm một nghề (phường chèo, phường thợ) thì còn một nội dung nữa, chỉ những khu vực địa lý được coi là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở kinh thành Thăng Long. Sử cũ còn ghi Thăng Long đời Lê gọi là phủ Phụng Thiên. Chia ra hai huyện Vĩnh Xương (sau đổi ra Thọ Xương) và Quảng Đức (sau đổi ra Vĩnh Thuận). Mỗi huyện 18 phường. Như vậy, Thăng Long có 36 phường. Suốt ba thế kỷ, nhà Lê vẫn giữ nguyên sự phân định hành chính đó.

Sang đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đổi Thăng Long là phủ Hoài Đức và chia nhỏ ra làm nhiều đơn vị mới, có tên gọi là phường, thôn, trại. Huyện Thọ Xương bị chia ra làm 8 tổng với 183 phường, thôn, trại; huyện Vĩnh Thuận bị chia ra làm 5 tổng với 56 phường, thôn, trại. Tổng cộng phủ Hoài Đức, tức kinh thành Thăng Long cũ, gồm 13 tổng, 239 phường, thôn, trại.

Đến khoảng giữa thế kỷ XIX hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận vẫn y nguyên 13 tổng nhưng con số các phường, thôn, trại rút xuống mạnh (do sát nhập): Thọ Xương còn 113 phường, thôn, trại. Vĩnh Thuận còn 40 phường, thôn, trại. Tổng cộng là 153 phường, thôn, trại. Như vậy là nhà Lê cho Thăng Long hưởng một quy chế riêng (gọi là Phủ, trực thuộc trung ương và suốt ba thế kỷ chỉ gồm có 36 phường). Ngược lại, nhà Nguyễn đã đánh đồng Thăng Long với các phủ khác, phải lệ thuộc vào tỉnh và cũng có tổng, có thôn, có trại như mọi nơi. Đó là một việc làm của chủ trương “hạ cấp” Thăng Long.

Như thế, không làm gì có cái gọi là “Hà Nội 36 phố phường”. Chỉ có Thăng Long thời Lê có 36 phường hoặc là Hà Nội thời Minh Mạng có 239 phường, thôn, trại và Hà Nội thời Tự Đức với 153 phường, thôn, trại. Do tình hình chia nhỏ Thăng Long nên một phường đời Lê đã phân ra làm nhiều phường, thôn, trại thời Nguyễn.

Bây giờ sang vấn đề phố. Phố khác hẳn phường. Nếu phường nguyên nghĩa là một khu vực hành chính thì phố nguyên nghĩa là chỗ bán hàng, nơi bày hàng, tức là như ta nói ngày nay là cửa hàng, cửa hiệu. Phố có thể là một ngôi nhà bày bán hàng mà cũng có thể ban đầu chỉ là một chỗ trống nhưng lấy làm nơi bày hàng hoá để buôn bán. Cho nên ví dụ như cụm từ phố Hàng Trống nguyên nghĩa chỉ là một ngôi nhà, một cửa hàng có bán mặt hàng là trống. Cũng vậy phố Hàng Chiếu vốn chỉ là một nhà có bán mặt hàng chiếu… Song do các “phố” tập trung ken sát nhau thành một dãy (dài hoặc ngắn là tuỳ) nên cái dãy gồm nhiều phố ấy (phố với nghĩa là cửa hàng, cửa hiệu) cũng được gọi tắt là phố. Và dần dần cái từ phố mới biến nghĩa là một dãy các cửa hàng cửa hiệu đã lấn át cái từ phố có nguyên nghĩa là một ngôi nhà bày bán hàng. Và thế là thay vì nói dãy phố Hàng Chiếu, dãy phố Hàng Bạc… để chỉ những con đường mà hai bên là những ngôi nhà bày bán chiếu, bán vàng bạc… Hiện nay trong ngôn ngữ miền Bắc, từ phố với nguyên nghĩa là ngôi nhà, cửa hàng đã phai mờ hoàn toàn, song miền Trung, miền Nam thì lớp trung niên trở lên vẫn sử dụng.

Do sự hình thành như vậy mà trong một phường cổ có nhiều phố. Như trong cùng phường Đông Các có phố Hàng Bạc, phố Hàng Mắm, phố Hàng Giày… Cho nên phường không bao giờ lại ngang hàng với phố mà là trùm lên các phố. Và cũng vì thế, 36 phố phường thời Lê không thể là 36 phố + phường được.

020.Toà thành hiện nay gọi là “thành cổ Hà Nội” có từ bao giờ? Qui mô? Hiện trạng?

Đó là toà thành xây trong hai năm 1804-1805 và bị tàn phá cũng trong hai năm 1894-1895. Xây là do nhà Nguyễn (Gia Long); phá là do thực dân Pháp.

Nhìn vào bản đồ Hà Nội hiện nay, thấy một ô vuông mà bốn cạnh là bốn đường Phan Đình Phùng (bắc), Hùng Vương (tây), Trần Phú (Nam), Phùng Hưng (đông). Đó là bốn mặt của toà thành nhà Nguyễn. Trong thành chia ra ba khu theo chiều dọc. Khu phía đông là các cơ quan đầu não của tỉnh Hà Nội: dinh Tổng đốc, Tuần phủ, Án sát… nay là khu quân đội. Khu phía tây chủ yếu là kho tàng nay là phần nằm giữa hai đường Hùng Vương và Hoàng Diệu với những công sở và nhà ở. Đặc biệt lăng Bác là ở ngay cửa chính Tây. Trung tâm thành nay là khu vực nằm giữa hai đường Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu. Trên cái lõi này còn sót lại – từ Nam lên Bắc- năm di tích: Cột Cờ, cửa Đoan Môn, nền Hành cung, Hậu lâu và cửa chính Bắc. Cột cờ được xây cùng lúc với thành hoặc muộn hơn chút ít. Cửa Đoan Môn hiện còn, là xây cùng với thành, trên móng của cửa Đoan Môn các đời vua trước. Đoan Môn là cửa đi vào khu Cấm thành. Nền Hành cung cũng là nền điện Kính Thiên đời Lê. Hậu lâu có thể là toà nhà dành cho các phi tần tháp tùng vua nhà Nguyễn khi ra Bắc. Nhưng cuối thế kỷ XIX toà nhà này bị hư hỏng và nhà binh Pháp đã xây hoàn toàn mới song theo hình dáng kiến trúc cổ Việt Nam. Còn cửa chính Bắc thì đã bị phá mất vọng lâu.

Hiện ngành văn hoá thành phố đang cố gắng tu sửa bốn trong năm di tích đó (trừ khu điện Kính Thiên đang thuộc quân đội sử dụng).

021.Thế nào là khu phố cổ và khu phố cũ?

Đây là hai thuật ngữ mới ra đời khoảng mười lăm năm nay, từ khi người ta bắt đầu chú ý đến những di sản kiến trúc của thành phố. Nói khu phố cổ là nói khu vực mà đường, phố, nhà cửa theo kiểu cách cổ, bắt đầu hình thành từ ngàn năm xưa, chủ yếu là khu vực phía Bắc Hồ Gươm.

Nói  khu phố cũ là nói khu vực mà đường phố nhà cửa do người Pháp quy hoạch và xây dựng, ra đời từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Phân biệt như trên cũng chỉ là ước lệ, một quy ước để tiện làm việc.

022.Phạm vi “khu phố cổ”. Đặc trưng?

Từ năm 1995, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, tìm giải pháp bảo vệ, thành phố tạm thời quy định “khu phố cổ” nằm trong khu vực một hình gọi là tam giác, nhưng kỳ thực là hình thang, hai cạnh ngang là phố Hàng Đậu và dãy phố Hàng Bông – Hàng Gai – Cầu Gỗ – Hàng Thùng. Hai cạnh dọc là phố Trần Nhật Duật và dãy phố Hàng Cót – Hàng Gà – Hàng Điếu – Hàng Da.

Khu vực này, cho tới trước khi có mặt người Pháp đều chung một dáng dấp: các phố hẹp, chi chít dọc ngang kiểu bàn cờ, phần lớn mang tên gọi của các mặt hàng sản xuất hay kinh doanh tại đó: Hàng Đường, Hàng Bạc… không rõ thời xa xưa thế nào, chỉ biết từ đầu thế kỷ XIX thì nhà hai bên đường đều theo kiểu “nhà ống”. nhà như một cái ống, bề ngang hẹp, chiều dài sâu.Bố cục đều tương tự: gian ngoài là chỗ bán hàng hoặc làm hàng, tiếp đến một sân lộ thiên để lấy ánh sáng. Nhà trong mới là nơi ăn ở, nối vào đó là khu phụ. Đa số là một tầng, lợp ngói, hai tường hồi vượt cao xây giật cấp như những bực thang. Cũng có một số nhà thêm một tầng gác nhưng thấp và không mấy hàng, vừa là nơi sinh hoạt của gia đình. Tại khu phố dó người mua kẻ bán suốt ngày, cảnh tượng tấp nập. Cái hấp dẫn của khu phố cổ Hà Nội chính ở những chỗ đó, ở cái tổng thể do người xưa đã sắp xếp thành một cơ thể đầy sống động, khăng khít, gắn bó kề tựa nhau mà tồn tại, sinh sôi…

Cũng phải kể tới những chùa-đình-đền-miếu rải rác trong nhiều đường phố, cổ kính và trang trọng. Đó là những bằng chứng của một khía cạnh tâm hồn người Hà Nội cũ: bên cạnh sự hoà đồng với cộng đồng xã hội, người Hà Nội luôn tìm cách hoà đồng với thế giới tâm linh, vì cùng với một không gian đô thị vật chất, vẫn tồn tại một không gian đô thị mang màu sắc huyền thoại, ẩn chìm và thiêng liêng, ở đó có thể giao hoà cùng quá khứ chứa chất sức mạnh tiềm ẩn.

Khi Pháp tới, các phố cổ được uốn thẳng hơn, làm vỉa hè, và thêm các công trình hạ tầng. Tại đây, một số nhà được xây dựng lại kiên cố nhưng vẫn theo kiến trúc cổ. Một số xây dựng theo kiểu “Tây”, một hoặc hai tầng, chịu ảnh của vật liệu xây dựng mới và hình thức trang trí kiến trúc Châu Âu. Điều này có làm biến dạng song bóng dáng của một thời đã qua (ít ra là thế kỷ XIX) vẫn còn lưu lại ở cái không gian văn hoá đậm đà hương vị cổ. Vì vậy mà “khu phố cổ” (cổ đến đâu thì còn cần bàn thêm) vẫn là một kỷ niệm mà người xưa gửi cho người nay để rồi truyền cho đời sau.

023.Phạm vi “khu phố cũ”. Đặc trưng?

Từ năm 1875, Pháp đã chiếm khu Đồn Thuỷ cũ làm nhượng địa và xây dựng những ngôi nhà theo kiến trúc Châu Âu. Từ năm 1883 Pháp chiếm hẳn Hà Nội. Năm 1886 đã có một quy hoạch cho thành phố Hà Nội mới. Ban đầu tập trung cải tạo khu quanh Hồ Gươm. Trên sát mái nhà số 3 Hàng Khay, nay vẫn mang dòng chữ 1886 là năm xây dựng. Sau đó có việc lấp ao hồ, lấp sông Tô rồi phá toà thành cổ. Do vậy, lần lượt xuất hiện các khu phố Tây, một là khu Nhượng địa, hai là khu thành cổ, ba là khu nam Hồ Gươm. Ba khu này nay gọi là “khu phố cũ”.

1. Khu Nhượng địa hình chữ nhật, hai cạnh dài là đường Bạch Đằng và phố Lê Thánh Tông – Trần Nhân Tông, hai cạnh ngang là đoạn đầu phố Tràng Tiền và phố Nguyễn Huy Tự. Đây nguyên là đồn thuỷ quân của tỉnh Hà Nội cũ, tháng 8-1875 bị buộc phải nhượng hẳn cho quân đội Pháp xây doanh trại, dinh thự và bệnh viện. Đây là những công trình kiến trúc kiểu “chính thống”. Dinh Tổng tham mưu trưởng quân Pháp (nay là Nhà khách bộ Quốc phòng) còn mang trên nóc hàng chữ số ghi năm xây dựng 1874-1877. Bệnh viện Lanessan (nay là Quân y viện 108) được xây dựng năm 1892-1893.

2. Khu thành cũ gồm các phố Phan Đình Phùng, Hùng Vương, Hoàng Diệu, Điện Biên Phủ, Lê Hồng Phong, Chu Văn An, Trần Phú. Vì việc giải phóng mặt bằng dễ dàng (đất trống) nên việc xây dựng có nhiều thuận tiện. Đường phố rọng, dài. Phủ toàn quyền nay là Phủ Chủ tịch xây dựng trong những năm 1902-1906. Các biệt thự ở đây thường theo kiến trúc miền Bắc nước Pháp, mái dốc, các chi tiết trang trí ở cửa, ở nóc diêm dúa, tỉ mỉ.

3. Khu nam Hồ Gươm là một hình chữ nhật mà hai cạnh dài là Tràng Thi – Tràng Tiền và Trần Hưng Đạo, hai cạnh ngang là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Khu vực này được xây dựng đồng thời với khu thành cũ song quy trình có chậm hơn vì phải giải toả nhiều làng xóm. Nhà hát lớn xây từ 1902-1911. Một số công sở quy mô lớn, như Công ty hoả xa Vân Nam (nay là trụ sở Tổng công đoàn ở ngã ba Trần Hưng Đạo – Quán Sứ) xây dựng xong năm 1902, trường đại học ở phố Lê Thánh Tông xây năm 1904, Phủ Thống sứ (nay là Nhà khách Chính phủ số nhà 10 phố Ngô Quyền) xây năm 1919. Ở khu này, đa số cũng là biệt thự nhưng mái không dốc, nhiều cửa, theo kiến trúc miền nam Pháp.

Ở cả ba khu trên, tới những năm 20 và 30 xuất hiện các công trình kiến trúc theo xu hướng kết hợp phong cách Á Đông. Một số có giá trị thẩm mỹ cao như Viện bảo tàng Finot (nay là Bảo tàng lịch sử) 1928-1932, Sở Tài chính (nay là Bộ Ngoại giao 1929-1932, Viện Pasteur 1930…). Cả ba khu trên nay được gọi là khu phố cũ. Đây cũng là một quỹ đô thị rất đặc trưng, quý giá của Hà Nội.

024.Hà Nội có bao nhiêu phố bắt đầu bằng chữ Hàng?

Cứ theo thực trạng hiện nay, Hà Nội có 53 phố bắt đầu bằng chữ Hàng. Nếu xếp theo a, b, c thì là: Hàng Bạc, Hàng Bài, Hàng Bè, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Bột (ngõ), Hàng Buồn, Hàng Bún, Hàng Bút, Hàng Cá, Hàng Cân, Hàng Chai, Hàng Cháo, Hàng Chỉ (ngõ), Hàng Chiếu, Hàng Chĩnh, Hàng Chuối, Hàng Cỏ (ngõ), Hàng Cót, Hàng Da, Hàng Dầu, Hàng Đào, Hàng Đậu, Hàng Điếu, Hàng Đồng, Hàng Đường, Hàng Gà, Hàng Gai, Hàng Giày, Hàng Giấy, Hàng Hành, Hàng Hòm, Hàng Hương, Hàng Khay, Hàng Khoai, Hàng Lược, Hàng Mã, Hàng Mành, Hàng Mắm, Hàng Muối, Hàng Ngang, Hàng Nón, Hàng Phèn, Hàng Quạt, Hàng Rươi, Hàng Than, Hàng Thiếc, Hàng Thùng, Hàng Thịt (ngõ), Hàng Tre, Hàng Trống, Hàng Vải, Hàng Vôi. Nhưng trong thực tế lịch sử thì còn nhiều phố Hàng nữa. Có điều là đã bị thay thế dần cùng thời gian. Ví dụ ngày trước còn có Hàng Hài (nay là đoạn đầu Hàng Bông), Hàng Mụn (nay là Hàng Bút, còn Hàng Bún vốn là đoạn cuốn là đoạn cuối của phố Thuốc Bắc). Hàng Bừa và Hàng Cuốc (nay gộp lại là phố Lò Rèn), Hàng Tàn tức Hàng Lọng (nay là đoạn đầu phố Lê Duẩn), Hàng Bột (nay là phố Tôn Đức Thắng), Hàng Chè (nay là đoạn đầu phố Đinh Tiên Hoàng), phố Hàng Giò (đầu đoạn phố Bà Triệu), Hàng Kèn (đoạn phố Bà Triệu từ ngã năm Trần Hưng Đạo đến ngã năm Nguyễn Du), phố Hàng Đàn (nay là đoạn giữa phố Hàng Quạt), phố Hàng Màn (nay là đoạn đầu phố Hàng Giày), phố Hàng Lam (đầu đoạn phố Hàng Ngang), phố Hàng Lờ (cuối Hàng Bông), phố Hàng Nâu (nay là phố Trần Nhật Duật), phố Hàng Tiện (nay là đoạn phố đầu Hàng Gai), phố Hàng Sơn (nay là Chả Cá), phố Hàng Đẫy (nay là đoạn đầu phố Nguyễn Thái Học), phố Hàng Mã dưới và phố Hàng Mây (nay gộp lại thành phố Mã Mây), phố Hàng Trứng (đoạn cuối phố Hàng Mắm), phố Hàng Gạo (phố Đồng Xuân), phố Hàng Thêu (nay là đoạn cuối phố Hàng Trống), phố Hàng Sắt (nay là đoạn cuối phố Thuốc Bắc)…

Như vậy là có đến trên hai chục phố có tên bắt đầu bằng chữ hàng, song nay đã đổi ra tên khác hoặc gộp vào thành một phố dài. Có một số phố vẫn giữ được mặt hàng truyền thống như: Hàng Bạc còn đó với một số hiệu vàng, bạc mà xưa kia là nơi sản xuất vòng, xuyến, kiềng, vàng cho lớp người giàu sang. Hàng Khay vẫn còn một số thợ khảm trứ danh từ mảnh gỗ, vỏ trai mà tạo nên tác phẩm thực sự, óng ánh…. Hàng Than nổi tiếng với món bánh cốm ngon, lạ mà chỉ có Hà Nội mới có, gợi nhớ đến mùa cưới của người Hà Nội. Hàng Đào vẫn phấp phới màu sắc quần áo nhắc nhớ đến những phiên chợ tơ năm xưa. Hàng Trống cho đến ngày nay còn một số nhà có nghề làm trống cổ truyền, dựng tang trống, thuộc da, lên mặt trống đều bằng phương pháp thủ công. Hàng Mành vẫn làm mành. Hàng Thiếc làm thùng tôn, cắt kính. Hàng Mã vẫn bán đồ chơi Trung thu cho trẻ em…Bên cạnh đó, nhiều phố mang tên cũ nhưng không còn một ai làm nghề như: Hàng Gà, Hàng Cá, Hàng Gai, Hàng Bún, Hàng Cót, Hàng Bồ…Qua những chữ “hàng” chúng ta thấy nét đặc trưng riêng của phố Hà Nội, một khía cạnh của không gian cổ Thăng Long Hà Nội – thủ đô hôm nay và mai sau.

025.Đường phố dài và đường phố ngắn nhất ở Hà Nội?

Ở Hà Nội theo cách đặt tên đường phố được áp dụng từ những năm 1945-1946 thì có sự phân biệt giữa phố và đường. Phố là con đường hai bên có nhà đông đúc. Đường thì hai bên nhà thưa thớt và hướng chạy ra ngoại ô.

1. Khu vực nội thành hiện có hai con đường dài nhất. Đó là đường Lạc Long Quân và đường Láng, đều có độ dài lấy tròn số là 3.900 mét.

Đường Lạc Long Quân bắt đầu từ đỉnh Hồ Tây, chỗ đầu làng Nhật Tân chạy xuôi dọc bờ phía tây của hồ đến ngã ba chợ Bưởi. Như vậy là đường này chạy qua địa phận các làng cổ Nhật Tân (xóm tây và xóm nam), Quán La, Vệ Hồ, Trích Sài, Võng Thị và Yên Thái, cũng có nghĩa là chạy theo dòng sông cổ Thiên Phù (xem câu hỏi về sông Thiên Phù).

Còn đường Láng từ ngã tư Cầu Giấy men theo bờ tây sông Tô Lịch chạy qua Ngã Tư Sở, qua địa phận ba làng Láng Thượng, Trung, Hạ và làng Thịnh Quang Sở.

2. Nói về phố thì phố dài nhất là phố Thuỵ Khuê, dài 3.200 mét. Phố này bắt đầu từ cuối phố Quán Thánh chạy tới chợ Bưởi, tức cũng chạy ven bờ phía bắc của sông Tô Lịch, qua địa phận các làng Thuỵ Khuê, Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ và Yên Thái.

3. Về đường và phố ngắn nhất: Đường ngắn nhất là đường Thanh Niên có có 992 mét, đây là con đường phân chia Hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Ngày xưa, con đường này chỉ là con đê chắn cá của dân làng quanh hồ có tên là Cổ Ngư. Tới năm 1958 thanh niên Hà Nội đã bỏ công sức đắp rộng tôn cao nền đường như ta thấy hiện nay. Do đó chính quyền thành phố quyết định đặt tên là đường Thanh Niên.

Còn phố ngắn nhất là phố Hồ Hoàn Kiếm chỉ dài có 52 mét, đi từ giữa phố Cầu Gỗ đến phố Đinh Tiên Hoàng, nhìn sang Hồ Gươm. Đây nguyên là đất thôn Tả Vọng, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Phố này bên chẵn chỉ có một số nhà, bên lẻ cũng có vài số nhà thôi và các số nhà này đa phần đều là số phụ của những ngôi nhà mà cửa chính ăn ra phố Đinh Tiên Hoàng hoặc phố Cầu Gỗ.

026.Vì sao lại có tên là phố Tràng Tiền?

Tràng tức là trường, nghĩa đen là chỗ đất bằng phẳng hoặc chỗ có nhiều người tụ họp. Do vậy có tràng (trường) thi, tràng (trường) đúc, tràng (trường) học… Phố Tràng Tiền là nơi đầu đời Nguyễn có lập một tràng đúc tiền ở đây. Trong số các quan xưởng của nhà Nguyễn, Tràng Tiền được lưu ý đặc biệt do tầm quan trọng về tổ chức, quy mô và tính chất sản xuất cũng như vai trò kinh tế của nó trong nền kinh tế hàng hoá của Thăng Long – Hà Nội và cả nước lúc đó. Thời Lê, các cơ sở đúc tiền của Thăng Long đặt ở Cầu Dền và phường Nhật Chiêu (phía bắc Hồ Tây). Năm 1803, Gia Long mở một Cục đúc tiền ở Bắc Thành, sớm lưu hành tiền mới với mục đích tiêu diệt ảnh hưởng của nhà Tây Sơn và khẳng định uy quyền của triều đại mới (đặc biệt đối với dân Bắc Hà). Nhưng địa điểm ở đâu thì chưa rõ.Năm 1813, Gia Long cho lập một tràng (tức trường) đúc tiền gọi là Cục Bảo Tuyền ở cửa ô Tây Long. Tràng đúc tiền đó có hình chữ nhật mà bốn cạnh là các phố Tràng Tiền (Bắc), phố Phạm Mạnh Sư (Nam), Phan Chu Trinh (đông), phố Ngô Quyền (Tây) ngày nay. Tràng gồm những lò đúc và kho nhà tạm chứa (trước khi cho quân lính gánh tiền vào chứa ở kho trong thành). Chung quanh Tràng Tiền có hàng rào kín, ngoài đào hào sâu, chỉ mở hai cửa, cắt lính canh giữ xét hỏi. Triều đình giao Tổng trấn Bắc Thành kiêm lĩnh Cục Bảo Tuyền Đại sứ trực tiếp điều hành. Theo từng thời kỳ, có từ 5 đến 20 lò thường xuyên hoạt động. Tràng Tiền Hà Nội đúc cả tiền đồng lẫn tiền kẽm. Tiền đồng nặm từ 9 đến 10 phân tức là bằng một chỉ (đồng cân). Tiền kẽm nặng khoảng 6 phân. Để đảm bảo độc quyền, nhà nước phong kiến ra các đạo cụ, cấm đúc tiền giả, tàng trữ, tiêu tiền dị dạng, quy định tổ chức, quản lý lao động rất chặt chẽ. Khi nắm quyền cai trị thành phố Hà Nội, thực dân Pháp chính thức huỷ bỏ Tràng Tiền vào năm 1887, lấy đất chia cho các tư bản xây nhà và cửa hiệu.

027.Tại sao gọi là phố Tràng Thi?

Tràng còn có âm là trường, nguyên nghĩa là nơi đất bằng phẳng, chỗ nhiều người tụ họp. Trong tiếng ta, vốn có một số chữ có hai âm nhưng chỉ có một  nghĩa,dùng âm nào cũng được: mệnh – mạng, vũ – võ, bổn – bản, trường – tràng… Tràng thi tức là Trường thi, nơi tổ chức các kỳ thi cho sĩ tử.

Thời Lý, Trần lịch sử không nói rõ đặt trường thi tại đâu và xếp đặt như thế nào. Phép thi Hương có từ đời Lê Thánh Tông (1460-1497) theo đó mới đặt ra trường thi cùng những quy định cụ thể. Đời Lê, trường thi Hương có lần ở mạn Cầu Giấy, có khoa thi lại ở bến Thảo Tân trên bờ sông Hồng chỗ Nhà Hát Lớn ngày nay hoặc ngay cạnh Văn Miếu hoặc ở làng Quảng Bá trên bờ đông Hồ Tây. Sang đời Nguyễn Minh Mạng (1820-1840), Thăng Long trở thành tỉnh lỵ tỉnh Hà Nội và trường thi Hương Hà Nội có lúc thành nơi đua tài của 10 tỉnh: Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Nội, Hưng Hoá, Lạng Sơn, Ninh Bình, Sơn Tây, Thái Nguyên, Thanh Hoá và Tuyên Quang. Trường thi được lập ở bãi đất trống vốn xưa là đất thuộc phủ Chúa Trịnh, đầu thế kỷ XIX thành đồn Hậu Quân, thuộc huyện Thọ Xương. Ban đầu, trường chỉ có rào che nứa, nhưng tới năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) thì xung quanh đã xây tường gạch, chi vi 182 trượng, bên trong gồm 21 toà trượng viện. Nếu mỗi trượng là 3,10 mét thì chu vi trường là 564m.

Trường thi chia làm hai khu vực chính: một khu dành cho khảo quan (người chấm thi), một khu cho sĩ tử (thí sinh). 21 toà thành xây gạch (đường viện) dành cho khảo quan, còn sĩ tử dựng lều để làm bài thi ở bãi trống được chia ra 4 vi, mỗi vi dành cho sĩ tử ở vài tỉnh. Để có chỗ làm bài, sĩ tử phải đem lều vào dựng che mưa nắng, đem chõng ngồi viết. Sau kỳ thi, chỗ đất này cho dân sở tại trồng hoa màu. Trường thi ấy hình chữ nhật tương ứng với khu Thư viện quốc gia và Bộ công nghiệp ngày nay, nằm giữa bốn phố Tràng Thi, Triệu Quốc Đạt, Hai Bà Trưng và Quang Trung.

Năm 1873, quân Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất, đóng ở trường thi, do đó thí sinh phải về thi ở Nam Định. Năm 1882, sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai, đất này thành khu Trưng bày những sản phẩm nông nghiệp và thủ công mà thực dân bắt nhân dân  miền Bắc đem tới. Đến 1886, Pháp ép triều đình Huế lập Nha Kinh lược Bắc Kỳ và cho xây trụ sở Nha này trên đất trường thi cũ. Năm 1897, chúng giải tán Nha Kinh lược, chuyển trụ sở này thành Phòng Thương mại và Canh nông Bắc Kỳ , nay là Thư viện quốc gia. Thực dân gọi phố này là Borgnis Desbordes (tên một viên tướng Pháp) nhưng dân Hà Nội vẫn cứ gọi bằng tên quen thuộc là phố Tràng Thi.

028.Cho biết về ngôi đền cổ nhất của đời Lý còn lại ở Hà Nội?

Ngôi đền cổ nhất đời Lý còn lại tới nay ở Hà Nội là đền Đồng Cổ.

Đền này có trước cả chùa Một Cột và Văn Miếu. Nguyên đền Đồng Cổ gốc ở chân núi Khả Phong làng Đan Nê, huyện Yên Định, Thanh Hoá. Năm 1020, hoàng tử Phật Mã trên đường đem quân dẹp loạn phía Nam, có nghỉ chân ở núi Khả Phong. Ban đêm ông chiêm bao thấy thần Đồng Cổ xin theo đi trợ giúp. Lần ấy thắng trận, khi về qua Đan Nê ông có tế thần Đồng Cổ. Tám năm sau, Lý Thái Tổ qua đời, Phật Mã chiêm bao thấy thần Đồng Cổ báo trước việc này nên có phòng bị. Do vậy cuộc nổi loạn của ba người em đã bị dẹp. Phật Mã cho xây đền ở phía phải hoàng thành (nay là làng Đông, thuộc phường Bưởi) thờ thần Đồng Cổ và quy định hàng năm cả triều đình phải tới đây làm lễ và cùng nhau thề: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh tru diệt”. Ban đầu là ngày 23 tháng 3 sau chuyển sang mùng 4 tháng 4.Lệ thề này được duy trì suốt hai triều Lý – Trần.

Nay ngồi đền vẫn còn, tất nhiên đã qua bao nhiêu lần tu sửa. Hàng năm, nhân dân vẫn tổ chức hội vào mùng 4 tháng 4 với lời thề trung với nước, hiếu với dân.

029.Tại sao lại gọi là chùa Quán Sứ?

Chùa Quán Sứ nay ở giữa phố cùng tên mang biển số nhà 73. Cả khu vực này là đất thôn An Tập xưa. Tại đây thời đầu nhà Lê (thế kỷ XV) đã có lập một khu gọi là Quán Sứ để tiếp đón sứ thần các nước Ai Lao, Chiêm Thành… khi họ tới Thăng Long. Vì họ đều theo đạo Phật nên một ngôi chùa được xây dựng cạnh Quán Sứ để tiện cho các sứ thần có thể tụng niệm cúng dàng. Về sau nhà Quán Sứ bỏ đi nhưng ngôi chùa được giữ lại. Hiện nay, trong chùa có nhiều bia đá, đáng chú ý là bia soạn năm 1842 có đoạn ghi: “Chùa ở thôn An Tập, huyện Thọ Xương, tiền đường thờ Phật, hậu đường thờ Lý Quốc Sư tức Nguyễn Minh Không một nhà sư uyên bác sống khoảng 1100-1141, đồng thời được coi là ông tổ nghề đúc đồng. Đầu thời Gia Long (1802-1820), thành Thăng Long đổi ra Bắc Thành, chia đặt các đồn quân. Chùa giáp ngay đồn Hậu Quân”.

Trải bao thay đổi, tới năm 1934 Hội Phật giáo Bắc Kỳ lấy chùa này làm Hội quán. Năm 1942, chùa được xây lại theo quy mô kiến trúc và trang trí nội thất như ta thấy ngày nay. Từ năm 1953 Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam được thành lập, văn phòng trụ sở đặt tại đây.

030.Sự tích chùa Một Cột?

Là một cụm kiến trúc, gồm ngôi chùa và toà đài xây dựng giữa hồ vuông. Cả cụm vốn có tên là chùa Diên Hựu và đài Liên Hoa. Đài này lâu nay quen gọi là chùa Một Cột, hình vuông, mỗi bề 3 mét, mái cong dựng trên cột đá hình trụ. Cột có đường kính 1,20 mét cao 4 mét (chưa kể phần chìm dưới đất), đầu cột có một hệ thống những thanh gỗ tạo thành bộ khung sườn kiên cố, đỡ cho ngôi đài dựng bên trên khác nào một đoá hoa sen vươn thẳng lên khu ao hình vuông có lan can bằng gạch bao quanh. Từ bên ngoài, có lối đi nhỏ bằng gạch, đi qua ao đến một chiếc thang xinh xắn dẫn lên Phật đài. Trên cửa Phật đài có biển đề “Liên Hoa đài” (Đài hoa sen) ghi nhớ sự tích nằm mộng của vua Lý dẫn đến việc xây chùa. Sử chép: “Lý Thánh Tông (1028 – 1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên toà hoa sen, vua cũng được dắt lên toà. Khi tỉnh giấc vua đem việc ấy hỏi các quan… Có người khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa ao, làm toà sen của Phật đặt trên cột như đã thấy trong mộng. Cho các sư chạy đàn, tụng kinh cầu cho vua sống lâu. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu (kéo dài cõi phúc)”. Đó là vào năm 1049 và như vậy, ngay lúc xây dựng, đã có ngôi chùa và đài hoa sen. Chưa rõ quy mô ngôi chùa như thế nào, chứ quy mô Liên Hoa đài thì một tấm bia cổ đời Lý còn ghi: “…Đào hồ Linh Chiểu, giữa hồ vọt lên một cột đá, đỉnh cột nở đoá hoa sen nghìn cánh, trên hoa sen dựng toà điện màu xanh đặt pho tượng Quan Âm. Vòng quanh hồ là dãy hành lang. Lại đào ao Bích Trì, mỗi bên đều bắc cầu vồng để đi qua. Phía sân cầu đàng trước, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly”.
Chùa Một Cột 1922

Như vậy, quy mô Liên Hoa đài thời Lý to hơn ngày nay nhiều, cả những bộ phận hợp thành và hình dạng cũng phong phú hơn.

Trong thực tế, cụm chùa Một Cột đã qua nhiều lần sửa chữa. Ngày 11-9-1954 trước khi rút khỏi nước ta, quân Pháp đã cho nổ mìn phá huỷ Liên Hoa đài. Sau khi tiếp quản Hà Nội, Chính phủ đã cho làm lại như cũ và tháng 4-1955 thì công việc hoàn thành.

031.Sự tích đền Ngọc Sơn?

Khoảng năm 1739 chúa Trịnh Giang lập cung Khánh Thuỵ ở trên hòn núi Ngọc trong hồ Hoàn Kiếm làm nơi hóng gió ngày hè. Sau đó người em của chúa Trịnh Doanh lại cho đắp ở bờ hồ phía đông một gò núi gọi tên là gò Độc Tôn để kỷ niệm sự kiện ông ta dẹp được cuộc nổi dậy của dân vùng núi Độc Tôn ở cuối dãy Tam Đảo. Tới đời Lê Chiêu Thống vào năm 1786, đã cho lính đốt cung Khánh Thuỵ. Sang thế kỷ XIX, một ngôi chùa thờ Phật được dựng lên trên nền cũ của cung Khánh Thuỵ. Ít lâu sau, lại đổi chùa ra đền, chủ yếu thờ Văn Xương, một nhân vật huyền thoại coi sóc việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo. Ngoài ra trong đền còn có tượng Quan Vũ, một danh tướng thời Thục Hán nổi tiếng về sự trung nghĩa và tượng Lã Tổ nổi tiếng về chữa bệnh, cả hai đều là người Trung Hoa được thần thánh hoá.

Năm 1865, Nguyễn Văn Siêu, một nhà văn hoá lớn của Hà Nội, đã đứng ra sửa sang lại toàn cảnh khu này. Trên núi Độc Tôn ông cho xây dựng một tháp đá mà đỉnh là hình ngọn bút lông. Trên thân tháp có tạc ba chữ Tả Thanh Thiên có nghĩa là viết lên trời xanh.

Có bút tất phải có nghiên. Đi qua tháp Bút tới đài Nghiên: Một cửa cuốn trên có đặt một nửa quả đảo. Qua đài Nghiên là đến cầu Thê Húc có nghĩa là “nơi đậu lại ánh sáng mặt trời ban mai”.

Đầu cầu bên kia là Đắc Nguyệt Lâu (lầu được trăng) tức cũng là cổng đền Ngọc Sơn. Nếp ngoài là bái đường, nếp giữa là nơi thờ Văn Xương, Quan Vũ và Lã Tổ, nếp sau là nơi thờ Trần Hưng Đạo. Trước mặt bái đường là Trấn Ba Đình (đình chắn sóng). Xa trông, góc tây nam hồ là gò Tháp Rùa, tháp chỉ mới có từ cuối thế kỷ XIX thực ra không có giá trị gì về lịch sử cũng như nghệ thuật song do đã đứng đó một một thế kỷ nên thành thân thiết với mọi người ngày nay.

032.Sự tích tháp Hoà Phong?

Tháp đứng trên vỉa hè bên phía Hồ Gươm đối diện với trung tâm ngoại vụ Bưu điện Hà Nội qua trục đường Đinh Tiên Hoàng.

Đây là di vật còn lại của chùa Báo Ân, còn gọi là chùa Quan Thượng, một quần thể kiến trúc Phật giáo nổi tiếng một thời. Nguyên là vào giữa thế kỷ XIX ở chỗ nay là toàn thể khu vực Trung tâm Bưu điện có một ngôi chùa lớn tên là Báo Ân, nhưng dân gọi là chùa Quan Thượng vì do viên tổng đốc Nguyễn Đăng Giai đứng ra xây dựng khoảng 1843-1845. Chùa khuôn viên hình tám cạnh gồm hai chục nếp nhà, nhà thờ Phật, nhà thờ Mẫu, nhà in kinh, nhà cho các sư ở… cả thày trên một trăm gian, bên trong trang trí rất tráng lệ. Ngoài chùa là hồ sen. Trước cửa chùa là ngọn tháp Hòa Phong. Nhưng tới năm 1898 cùng với đà mở mang xây dựng đường phố mới, chùa bị phá huỷ toàn bộ, chỉ có ngọn tháp Hoà Phong là được để lại coi như một kỷ niệm. Như vậy, tính đến năm 2000, tháp đã 155 tuổi. Đây là một loại tháp hiếm có ở Hà Nội, thuộc loại tháp bốn cửa, biến dạng của Stupa (một loại hình tháp của Phật giáo Ấn Độ). Bốn mặt tầng hai có hình bát quái. Bát quái ban đầu là công cụ chỉ phương hướng, theo vũ trụ quan Trung Hoa. Như vậy tháp Hoà Phong là tổng hợp những quan niệm về vũ trụ của Phật giáo đã Hán hoá.

033.Ngôi đền cổ nhất ở Hà Nội là đền nào?

Có lẽ đó là đền Bạch Mã, nay mang biển số nhà 76 phố Hàng Buồm. Đền này thờ Long Đỗ tức Bạch Mã, vị thần bảo hộ cho kinh thành Thăng Long. Theo một bộ sách soạn từ thế kỷ XIV thì chính thần này đã cảnh báo Cao Biền, một viên quan Trung Quốc khi y cai trị đất này (khoảng thời gian 866-875) khiến y sợ hãi phải lập đền thờ thần. Như vậy, đền này có từ thế kỷ IX. Một truyền thuyết khác kể thêm: Khi Lý Công Uẩn định đô Thăng Long (1010), xây thành mà cứ bị lở hoài, ông tới đây cầu lễ và thế là một buổi sáng chợt thấy có con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy vòng quanh khu vực đang xây thành, chạy đến đâu lại dấu chân đến đấy rồi ngựa trở lại đền, vụt biến. Vua Lý cứ theo vết chân ngựa mà xây thành và thành không lở nữa. Vua bèn phong cho thần Long Đỗ làm thành hoàng bảo vệ cho Thăng Long. Từ đó thần có thêm tên là Bạch Mã.

Tuy sự tích cổ xưa như vậy nhưng diện mạo đền như ta thấy ngày nay chỉ mới có từ lần sửa chữa lớn đầu thế kỷ XX. Và phố Hàng Buồm lúc này đã có rất đông Hoa kiều cư trú nên họ góp nhiều công và của, do vậy kiến trúc của đền có pha chút ít màu sắc kiến trúc đền chùa Trung Hoa. Di vật quý ở đây là pho tượng thần Long Đỗ (Bạch Mã) bằng đồng, tương truyền có từ thế kỷ XVIII.

034.Đền Quán Thánh có từ bao giờ? Thờ ai?

Cứ như ba chữ tạc trên nóc cổng thì đây là “Chân Vũ Quán”. Thực ra cái tên này mới có từ năm 1842. Trước đó là “Trấn Vũ Quán” và dân chúng thì gọi nôm na là đền Quán Thánh. “Quán” là nơi thờ tự của Đạo giáo,cũng như chùa là của Phật giáo.

Thánh Trấn Vũ là một hình tượng kết hợp nhân vật huyền thoại Việt Nam (Ông thánh đã giúp An Dương Vương xây dựng thành Cổ Loa) và nhân vật thần thoại Trung Quốc (Thánh coi giữ phương Bắc). Tương truyền, đền có từ đời Lý Thái Tổ(1010-1028) nhưng diện mạo hiện này có từ lần sửa chữa năm 1893. Dù chỉ mới một thế kỷ nhưng kiến trúc đền thuộc loại đẹp. Các mảng chạm khắc trên những cấu kiện bằng gỗ có giá trị nghệ thuật cao. Bố cục mặt bằng cũng như không gian của đền hài hoà cân đối, nhất là cảnh quang thoáng đãng, có hồ Tây trước mặt tạo nên một vọng cảnh đẹp. Trong đền có pho tượng Trấn Vũ bằng đồng đen đúc năm 1667 cao 3,96 mét, nặng khoảng 4 tấn. Tượng có hình dáng một người ngồi, y phục gọn gàng nhưng tóc lại bỏ xoã, chân không giày dép, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm, thân gươm có rắn quấn và chống lên lưng rùa. Đó là hình dáng một đạo sĩ.

Tượng Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo đánh dấu kỹ thuật đúc đồng và nghệ thuật tạc tượng của người Hà Nội cách đây ba thế kỷ. Ở nhà bái đường có một pho tượng nhỏ bằng đá. Theo một  thuyết được nhiều người chấp nhận thì đây là tượng ông Trùm Trọng, người thợ đúc đồng đã đúc pho tượng Trấn Vũ được học trò của ông Trùm tạc nên để ghi công thầy.

035.Cho biết sự tích phủ Tây Hồ?

Bên bờ phía Đông của hồ Tây có một doi đất ăn lạm ra hồ như một bán đảo. Bán đảo đó là làng Tây Hồ, một làng cổ của kinh thành Thăng Long, nay thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ. Ở đầu làng sát ngay mép nước có một ngôi đền thờ bà Liễu Hạnh, một nhân vật có thật sống vào thế kỷ XVII nhưng được dân gian thần thánh hoá tôn làm Thánh Mẫu (thánh mẹ) đứng đầu thần điện của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Những nơi thờ mẫu gọi là đền, nhưng đặc biệt những nơi có liên quan mật thiết đến mẫu Liễu Hạnh (nơi sinh, nơi hiển thánh) thì gọi là phủ. Phủ Tây Hồ được dựng theo một truyền thuyết.

Vào khoảng đầu thế kỷ XVII, ông Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528-1613) trong một buổi cùng hai người bạn là cử nhân họ Lý và tú tài họ Ngô chơi hồ Tây bỗng gặp một cô gái xinh đẹp. Họ trò chuyện với nhau và cùng nhau làm thơ. Đến khi Trạng Bùng hỏi tên tuổi nữ thi sĩ thì cô kia mỉm cười đọc một bài thơ rồi biến mất. Phân tích bài thơ, Phùng nhận ra đó là thánh Liễu Hạnh. Dân làng Tây Hồ mới nhân câu chuyện đó lập một ngôi phủ để thờ bà.

Ngày nay, đây là một nơi thu hút rất nhiều khách hành hương, họ đi lễ Mẫu cầu may đồng thời để chiêm ngưỡng thắng cảnh.

036.Ngôi chùa nào ở Hà Nội có pho tượng Phật bằng đồng lớn nhất?

Đó là chùa Ngũ Xã. Ngũ Xã là một bán đảo bên hồ Trúc Bạch (nay thuộc quận Ba Đình). Nơi đây từ xưa đã có nghề đúc đồng nổi tiếng.
Tượng Phật do làng Ngũ Xã đúc.

Chùa Ngũ Xã có tên là Thần Quang Tự, có từ thế kỷ XVIII, ngoài việc thờ Phật còn thờ nhà sư Nguyễn Minh Không, tục truyền là tổ nghề đúc đồng. Ở đây chỉ có một pho tượng Di Đà, mới đúc năm 1952, nhưng là pho tượng đồng to nhất ở các chùa miền Bắc Việt Nam do nghệ nhân Nguyễn Văn Tuỳ đúc.

Việc đắp cốt được khởi công vào ngày Phật đản (tức ngày 8 tháng 4 âm lịch) năm 1949. Đến cùng ngày này năm 1952 thì khánh thành. Tượng cao 3,93 mét, khoảng cách hai đầu gối là 3,60 mét, tai dài 0,70 mét, chu vi tượng đo tới 11,60 mét. Trọng lượng toàn bộ pho tượng là 10 tấn đồng. Còn toà sen gồm 96 cánh cũng đã dùng tới 1,6 tấn đồng. Tượng Di Đà của Ngũ Xã là một kiệt tác của nghề đúc đồng thủ công của Hà Nội thời hiện đại.

Chùa Ngũ Xã là một trong số ba ngôi chùa ở Hà Nội do làm lại ở những thập kỷ 40 và 50 gần đây nên toàn dùng vật liệu mới (xi măng, sắt thép) trong xây dựng tuy vẫn giữ phong cách chùa đền cổ Việt Nam (hai ngôi chùa kia là chùa Quán Sứ xây dựng năm 1942 và chùa Hưng Ký xây năm 1933).

037.Ngôi chùa cổ nhất ở Hà Nội?

Đó là chùa Trấn Quốc ở Hồ Tây. Đây còn là ngôi chùa vào loại cổ ở Việt Nam vì tương truyền có từ thời Lý Nam Đế (544 – 548). Thuở ấy, chùa được xây dựng sát bờ sông Cái, có tên là chùa Khai Quốc (mở nước). Đến đời Lê Thái Tông (1434 -1442) đổi gọi là chùa An Quốc. Đời Lê Kính Tông (1600 – 1618) bãi sông lở, dân dời chùa vào hòn đảo Cá vàng ở giữa hồ Tây (tức địa điểm hiện nay), nơi mà các vua nhà Lý đã dựng cung Thuý Hoa và đời Trần đã dựng điện Hàm Nguyên. Đời Lê Hy Tông (1680 – 1705) đổi gọi là chùa Trấn Quốc.

Khoảng thế kỷ XV (hoặc XVII) do đắp đê Cổ Ngư nên mới có đường nối đê với đảo Cá vàng. Chùa hiện nay còn giữ được lối kiến trúc độc đáo khác với nhiều chùa: phía trước là nhà bái đường, rồi đến hậu cung, phía sau mới là gác chuông. Trong chùa có một số tượng đẹp, đáng chú ý nhất là pho tượng Thích Ca nhập Niết bàn bằng gỗ thiếp vàng. Chùa cũng có nhiều bia, cổ nhất là tấm bia dựng năm 1639 do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn, nội dung ghi lại lịch sử đại tu chùa vào chính năm này. Ở sân chùa hiện có cây bồ đề xum suê cành lá, đó là tặng phẩm của một Tổng thống Ấn Độ khi ông tới thăm chùa vào năm 1959.

Năm 1842 vua Thiệu Trị nhà Nguyễn ra Bắc tới đây đổi gọi là Trấn Bắc nhưng dân vẫn quen dùng tên cũ.

038.Văn Miếu Hà Nội bao nhiêu tuổi? Bố cục?

Theo sử Toàn thư  thì Văn Miếu đầu tiên của Việt Nam xây ở Thăng Long vào tháng 10 năm 1070 đời Lý Thánh Tông tức là đến năm 2000 thì đã được 930 tuổi. Tuy nhiên, gần đây có người cho rằng Văn Miếu này được xây dựng chậm hơn sáu bảy chục năm. Dù vậy thì vẫn ở nơi địa điểm ngày nay. Bố cục như hiện nay có lẽ hình thành từ thời Lê Trung Hưng. Tường gạch bao quanh thì lại muộn hơn, có từ đầu thế kỷ XIX.

Văn Miếu ngày nay là khu đất hình chữ nhật, chia ra 5 khu. Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn. Chân cửa có đôi rồng đá mang phong cách Lê sơ (thế kỷ XV). Khu thứ hai bắt đầu với cửa Đại Trung Môn, hai bên có hai cổng nhỏ mang tên Thành Đức và Đạt Tài. Ở hai khu này có đường thần đạo đi giữa vườn cây và bốn thửa ao vuông. Tiếp đến khu thứ ba bắt đầu với Khuê Văn Các (gác sao Khuê, sao chủ đề văn học) xây dựng đầu thế kỷ XIX. Hai bên gác cũng có hai cổng nhỏ mang tên Bỉ Văn (văn đẹp đẽ) và Súc Văn (văn hàm súc). Ở giữa khu này có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời trong sáng) có tường bao. Hai bên hồ là hai khu vườn bia dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ. Hiện nay có 82 tấm bia của 82 khoa thi, xưa nhất là bia ghi về khoa thi năm 1442 và gần nhất là khoa thi năm 1779. Qua cửa Đại Thành tới khu thứ tư, một cái sân gạch trải rộng hai bên có hai dãy nhà tả vu và hữu vu. Cuối sân là nhà Đại Bái và Hậu Cung có kiến trúc đẹp, hoành tráng, nơi thờ ông tổ đạo Nho: Khổng Tử và các học trò nổi tiếng của ông… Tại đây còn có một số hiện vật quý như quả chuông đúc năm 1768, bốn nghiên đá có chữ Thái học nghiễn đường, một tấm khánh niên đại thế kỷ XIX và rất nhiều hoành phi, câu đối giàu giá trị văn học và triết lý. Khu thứ năm là đất trường Quốc tử giám thời Lê. Sang đời Nguyễn, sau khi trường Giám dời vào Huế, khu này trở thành điện Khải Thánh, thờ song thân Khổng Tử.

Nhưng sẽ là thiếu sót nếu không kể tới Hồ Văn ở đằng trước cổng phía bên kia đường. Giữa hồ có một gò đảo, trên có một tấm bia cho biết đây là Kim Châu, một thời các nho sĩ thường tới đây ngâm vịnh.

039.Khu Quốc tử giám cũ trong Văn Miếu được sửa sang như thế nào?

Từ lâu, bỏ hoang phế, nay thành phố đã chủ trương xây dựng một công trình mới. Do Quốc tử giám còn có tên là nhà Thái học nên bây giờ công trình được gọi là Khu Thái học.

Đó là một quần thể những công trình kiến trúc tương tự khu Đại Thành: toà nhà trung tâm ở giữa, là nơi tôn vinh các danh nhân có công xây dựng Văn Miếu – Giám, cũng như các bậc thày đạo cao đức trọng như Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Chu Văn An… Ngoài ra còn có nơi giới thiệu các tư liệu liên quan đến việc học hành thi cử giáo dục đào tạo thời phong kiến. Đây cũng là nơi tổ chức các hoạt động văn hoá, khoa học như hội thảo, lễ kỷ niệm danh nhân, trưng bày chuyên đề…

Hai bên toà nhà chính là hai dãy nhà làm việc, thư viện, trưng bày bảo tàng… Toàn bộ công trình hoàn toàn theo kiểu kiến trúc cổ.

040. Ở nội thành Hà Nội có hai làng Đồng Nhân đều có đền thờ Hai Bà Trưng?

Ngày nay, nằm sát bờ sông Hồng thuộc về phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội có một đơn vị cư dân vốn được gọi là làng Đồng Nhân Châu. Ngoài ra, cũng ở quận này, lùi vào phía tây, cách bờ sông Hồng chừng hơn 1 km cũng vốn có một đơn vị cư dân mang tên là làng Đồng Nhân. Tên làng này còn được lấy để đặt cho một phường là phường Đồng Nhân.

Vậy là có 2 làng Đồng Nhân riêng rẽ? Cứ như thực trạng hiện giờ  thì đúng là có hai làng cùng tên gọi, nhưng kỳ thật chỉ là một. Làng Đồng Nhân ở phường Đồng Nhân vốn có gốc là làng Đồng Nhân Châu ở phường Bạch Đằng và trước đây được coi là một xóm của Đồng Nhân Châu với tên gọi xóm Chùa này mới chỉ hình thành từ thế kỷ XIX. Còn làng Đồng Nhân Châu ngoài bờ sông thì có từ xa xưa. Sách cũ đã ghi tên Đồng Nhân từ thế kỷ XII với sự kiện lập đền thờ hai vị nữ anh hùng đầu tiên của dân tộclà: Trưng Trắc, Trưng Nhị. Sách Trưng Vương lưỡng vị sự tích ghi như sau: “ Sau khi Hai Bà tự trầm trên sông Cái thì hoá thành tượng đá ngồi trên dòng nước, thường vọt ra khí sáng, trôi mãi đến khúc sông bãi Đồng Nhân (Đồng Nhân Châu). Đêm đêm toả sáng thấu trời, dân sở tại kinh dị và thuyền bè không dám đến gần. Một đêm, phường chài đậu trên bến nghe văng vẳng tiếng nói: “Thuyền các ngươi ô uế lắm nên lui xuống hạ lưu”. Nhà vua lúc đó là Lý Anh Tông biết chuyện, sai người ra đón rước nhưng không được. Dân bãi Đồng Nhân lấy vải đỏ đón các Bà vào thì thấy tượng đá cao lớn và nặng, đầu đội mũ trụ, thân mặc áo giáp, hai tay trỏ lên trời, một chân quỳ, một chân ngả ra. Vua bèn giáng chỉ truyền cho dân làng này dựng đền thờ hai cỗ tượng đá ở bên sông. Việc này là vào năm Đại Định thứ 3 (tức 1142).

Như vậy là đền Hai Bà hiện diện ở bãi Đồng Nhân (nay thuộc phường Bạch Đằng) từ thế kỷ XII. Nhưng đến thế kỷ XIX sao lại có thêm đền Hai Bà thuộc phường Đồng Nhân? Tấm bia do tiến sĩ Vũ Tông Phan soạn năm 1840 nay còn trước đền đã giải đáp câu hỏi trên. Bài văn sau khi khẳng định sự nghiệp của Hai Bà có một đoạn nói về lai lịch đền: “Tại làng Đồng Nhân, huyện Thanh Trì từ xưa có lập đền thờ Hai Bà ở bãi sông. Về sau sông lở, dân làng chọn được một nơi ở Võ Miếu, thuộc thôn Hương Viên huyện Thọ Xương, được ban cấp hơn 6 mẫu để lập đền thờ làm nơi hương đèn phụng thờ”.

Như thế có nghĩa là đền Hai Bà ở phường Đồng Nhân ngày nay là hậu thân của đền Hai Bà ở phường Bạch Đằng. Chỗ đó vốn là đất thuộc Võ Miếu nằm trên địa phận thôn Hương Viên. Vì sông lở, đền gốc ngoài Đồng Nhân Châu mới dời vào đây và được cấp cho hơn 6 mẫu đất.

Từ đó dân ngoài bãi một số dời nhà theo đền mới, rồi lập đình và chùa ở hai bên đền, trở thành Xóm Chùa. Về thời điểm dời đền thì Sách Trưng vương lưỡng vị sự tích có nêu đó là năm Gia Long 18 tức 1819. Vậy là đến đây có thể tóm tắt thành những ý chính như sau:

1. Từ thế kỷ XII, nhân vớt được tượng Hai Bà, vua Lý Anh Tông cho lập đền thờ Hai Bà ở bãi Đồng Nhân trên bờ sông Hồng.

2. Đến năm 1819 do bờ sông lở, đền được dời vào xây trên nền Võ Miếu thuộc đất làng Hương Viên, một số dân ngoài bãi Đồng Nhân theo đền vào cư trú nơi đây, lập nên Xóm Chùa.

3. Nhưng sông Hồng do quá trình lở và bồi diễn ra theo chu kỳ nên ở bãi Đồng Nhân dân vẫn bám trụ nối tiếp cư trú, sinh sống và cũng đã xây lại một ngôi miếu thờ Hai Bà, coi như để tưởng nhớ cội nguồn gốc cũ. Do vậy có hai nơi thờ Hai Bà nhưng thực chất chỉ là một.

4. Người dân Đồng Nhân ngoài bãi hay trong Xóm Chùa vẫn là một cộng đồng cư dân chung một gốc gác. Tuy do sự phân chia hành chính theo địa lý mà thành ra hai đơn vị nhưng mọi phong tục, tập quán, tín ngưỡng vẫn tuân thủ như nhau. Hàng năm cùng tổ chức tế lễ thành hoàng ở đình, lễ Phật ở chùa, mở hội ở đền. Khi mở hội thì diễn ra ở cả hai nơi như rước kiệu từ đến ra miếu rồi từ miếu đi thuyền ra giữa sông lấy nước về tắm tượng và dâng cúng.

Tóm lại ở trên địa bàn quận Hai Bà Trưng có miếu thờ Hai Bà ở phường Bạch Đằng và đền thờ Hai Bà ở phường Đồng Nhân.

041.Thăng Long có hành cung Cổ Bi. Cho biết về di tích này?

Tại xã Cổ Bi, nay thuộc huyện Gia Lâm có một khu vực mà ngày nay dân vẫn còn gọi là cung Cổ Bi. Các sử cũ như Lịch triều tạp kỷ ghi việc xây hành cung này vào tháng 11 năm Đinh Mùi 1727 như sau:

“Tháng 11 xây dựng hành cung Cổ Bi. Chúa Trịnh đi Như Kinh, thích kiểu đất Cổ Bi, bèn muốn dựng Kinh đô mới ở đó. Các tụng quan xin cho dựng hành cung ở đó để phòng khi chúa đi tuần du. Chúa Trịnh bèn hạ lệnh cho chọn đất, vẽ đồ án. Công việc xây dựng trong một tháng thì xong”.

Chúa Trịnh nói ở đây là Trịnh Cương. Như Kinh là quê của bà Trương thái phi, sinh ra Cương, nay là làng Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Cùng theo đoạn sử trên thì ý đồ của Trịnh Cương là muốn dựng kinh đô mới ở đó. Nhưng các quan Tham tụng, Bồi tụng xin dựng hành cung để làm nơi nghỉ ngơi khi Chúa đi tuần du. Ta có thể hiểu là các tụng thầy không muốn chuyện dời đô, xây dô mới, chỉ đề xuất lập hành cung thôi. Chúa Trịnh cuối cùng chấp nhận và công trình xây dựng trong một năm thì hoàn thành.

Nhưng hai năm sau tức vào tháng 7 năm Kỷ Dậu 1729, đê sông Hồng ở Cự Linh bị vỡ, nước lũ làm hư hỏng nhà cửa nên Trịnh Cương lại cho sửa hành cung. Được một năm Cương qua đời, con trai trưởng là Trịnh Giang lên ngôi Chúa đã ra lệnh “dỡ gỗ ở phủ Cổ Bi thả xuống sông chở xuôi để cung cấp vào việc xây dựng hai chùa Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm” (hai chùa này đều ở tỉnh Hải Dương). Thế là hành cung Cổ Bi tiêu điều. Phải 15 năm sau, 1755 chúa Trịnh Doanh (em Trịnh Giang) mới cho tu bổ lại.

Hành cung Cổ Bi tồn tại suốt từ đời Trịnh Doanh (1755) cho tới hết triều đại họ Trịnh (1786), vua Lê Chiêu Thống đã cho tiêu huỷ mọi cung điện lâu đài của nhà Chúa vào khoảng 1788.

Dù vậy, vết tích hành cung Cổ Bi nay vẫn còn khá rõ, mặt bằng có tới hàng ngàn mét vuông với các dấu cũ của dinh thự điện đài, đường đi ngang dọc, và một số hiện vật đá điêu khắc như voi đá, hổ đá.

042.Cột cờ Hà Nội có từ bao giờ? Gắn với lịch sử Thủ đô ra sao?

Toàn bộ cột cờ gồm ba tầng đế và một thân cột. Các tầng có hình chóp vuông cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh xây ốp gạch. Tầng một mỗi chiều 42,5m, cao 3,1m, có hai thang gạch dẫn lên. Tầng hai mỗi chiều 27m, cao 3,7m, có bốn cửa, cửa hướng Đông trên có đắp hai chữ “Nghênh húc” (đón nắng sớm), cửa Tây với Hồi quang (ánh sáng phản chiếu), cửa Nam với Hướng minh (hướng về cõi sáng), cửa Bắc không có chữ. Tầng ba mỗi chiều 12,8m, cao 5,1m có cửa lên cầu thang trông về hướng Bắc, trên tầng này là thân cột cờ hình trụ tám cạnh thon dần lên trên, mỗi cạnh đáy 2,13m. Thân trụ cao 18,2m. Trong thân có cầu thang 54 bậc xây xoáy trôn ốc lên tới đỉnh. Toàn thể được soi sáng bằng 39 lỗ hình hoa thị và 6 lỗ hình rẻ quạt. Những lỗ này được đặt dọc các cạnh, mỗi cạnh có tới 5 hoặc 6 lỗ.

Đỉnh cột cờ được cấu tạo thành một lầu hình tám cạnh, cao 3,3m, có 8 cửa sổ ứng với 8 cạnh. Giữa lầu là một trụ tròn đường kính 0,4m, cao 3,3m là chỗ để cắm cán cờ. Như vậy, toàn bộ cột cờ cao 33,4m. Nếu tính cả chiều cao của cán cờ thì thêm vào 8m, tức là 41,4m.

Cột cờ được xây cùng với thành Hà Nội đời Nguyễn tức vào năm 1805 (có tài liệu nói là năm 1812). Khi đó đỉnh lầu chưa có mái. Sau này khi Pháp chiếm Hà Nội, phá thành (1894 – 1896), giữ lại cột cờ làm chỗ đánh tín hiệu liên lạc ban đêm bằng đèn với vùng ngoại vi.

Ít lâu sau phát triển điện thoại, cột cờ không còn chức năng thông tin, Pháp cho xây mái che lầu và chuyên dùng làm chỗ cắm cờ của chúng. Cho nên đương thời, nhà thơ Từ Diễn Đồng có viết:

Năm cửa chỉ còn thành cửa Bắc
Cột cờ sao thấy lá cờ Tây

Lá cờ Tây ấn chỉ bị hạ trong hai năm 1945 – 1946 và vĩnh viễn bị hạ từ ngày 10-10-1954.

043.“Thăng Long tứ trấn” nghĩa là gì?

“Thăng Long tứ trấn” có nghĩa là 4 vị thần trấn giữa bốn hướng của kinh thành Thăng Long khi xưa. Đó là đền Quán Thánh nằm trên phố Quán Thánh, quận Ba Đình thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần trấn giữ phía Bắc, tương truyền có từ thời Lý Thái Tổ (1010 – 1028). Đền Kim Liên nằm trong làng Kim Liên nay thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa thờ Cao  Sơn đại vương, vị thần trấn giữ phía nam, tương truyền có từ thời Lê Tương Dực (1504-1516). Trấn phía Đông là đền Bạch Mã tức Long Đỗ, tương truyền có từ thời Bắc thuộc, thế kỷ thứ IX. Trấn ở phía tây kinh thành là Linh Lang đại vương được thờ ở đền Voi Phục, làng Thủ Lệ nay thuộc phường Ngọc Khánh quận Ba Đình, tương truyền có từ thời Lý Thánh Tông (1054-1072).

044.Hà Nội có phải là nơi tổ chức và đón tiếp lớp thanh niên đầu tiên đi dự bị khoá huấn luyện chính trị vào năm 1926?

Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) tổ chức hội thanh niên cách mạng đồng chí và mở lớp huấn luyện chính trị (những bài huấn luyện đó, năm 1927 được tập hợp thành một tài liệu, lấy tên là “Đường Kách Mệnh”). Đồng chí Nguyễn Công Thu là một trong những học sinh  của lớp học đã được Nguyễn Ái Quốc phái về Hà Nội cuối năm 1926. Từ đó Hà Nội đã trở thành nơi tổ chức và đón tiếp các nam nữ thanh niên giác ngộ đi dự lớp huấn luyện ở Quảng Châu, những địa điểm đón tiếp bí mật là:

– Nhà ông Mai Lập Đông ở số 8 Ô Chợ Dừa.

– Nhà ông Bân ở 37 ngõ Tân Hưng (Tức Mặc)

– Số nhà 47 đường Résident Mỉibel (nay là Trần Nhân Tông)

– Khách sạn Nam Lai ở 95 Hàng Lọng (nay là 107 đường Lê Duẩn)

Hầu hết thanh niên Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đi và về đều bí mật tụ họp ở các điểm trên, dưới nhiều hình thức nguỵ che mắt địch: đi buôn, du lịch, thăm bà con Việt Kiều,… Các anh học xong đều được gia nhập Thanh niên cách mạng đồng chí hội và được phân về các địa phương trong nước tuyên truyền, phát triển tổ chức để chuẩn bị cho việc thành lập chính đảng sau này. Trong số thanh niên đó, có những người ở Hà Nội hoặc của các tỉnh thành khác về Hà Nội hoạt động. Đặc biệt có đồng chí Trần Phú sau là Tổng bí thư đầu tiên của Đảng, cũng đã dừng chân tại khách sạn Nam Lai trên đường đi sang Trung Quốc.

045.Cho biết về vụ bảy người tù chính trị vượt ngục đêm Noel 1932?

Hình thức đấu tranh tích cực nhất của tù chính trị là vượt ngục để tiếp tục hoạt động cách mạng.

Ở nhà tù Hoả Lò Hà Nội, địch canh gác rất nghiêm ngặt.Tuy vậy, các tù chính trị vẫn tìm cách trốn. Qua nhiều lần, nhận thấy cách giả ốm sang nhà thương Phủ Doãn (nay là bệnh viện Việt Đức) rồi cưa chấn song cửa sổ trốn đi là hữu hiệu nên vào cuối năm 1932, các ông Nguyễn Tạo, Lê Đình Tuyển, Phạm Quang Lịch, Vũ Trọng Đàm, Bùi Xuân Mẫn đã tạo ra đủ thứ bệnh để được đưa sang nhà thương. Hai ông Nguyễn Lương Bằng và ông Vũ Như Cương đang  chưa có cách nào giả ốm được thì lúc đó, nhà tù nổ ra cuộc đấu tranh tuyệt thực đồi quyền lợi viết thư, đọc báo, đòi thuốc lá, thuốc lào như cũ. Tuyệt thực đến ngày thứ 6, địch vẫn chưa nhượng bộ mà các ông Tạo, Lịch ở bên nhà thương nhắn về là công việc chuẩn bị vượt ngục sắp xong, nếu không ra thì lỡ thời cơ. Vì vậy các ông Nguyễn Lương Bằng và Vũ Như Cương liền tự đâm cổ, giả tự tử. Địch trúng kế phải đưa cả hai sang nhà thương.

Trong nhà thương bấy giờ có bốn xà lim giam tù bệnh nặng, các tù chính trị định vượt ngục vì vừa mới sang nên đều bị giam chung trong một xà lim. Cạnh đó là xà lim giam một đồng chí của ta bị điên vì bị mật thám dùng búa đổ vào đầu khi tra tấn (ông Quỳ thợ điện ở Nam Định). Để việc vưa song sắt  khỏi bị lộ, ông Lê Đình Tuyển phải giả vờ điên, trêu ông Quỳ, thành ra hai người điên la hét, đập phá ầm ĩ, rốt cuộc che lấp tiếng chấn song cửa sổ.

Sau khi đánh lạc hướng bọn tay chân địch, nửa đêm 24 tháng 12 bảy tù chính trị bí mật chui ra khỏi khoang chấn song sắt đã cưa, trèo tường, nhảy xuống đường, lẫn vào dòng người đông đảo đi dự lễ Thiên chúa giáng sinh rồi toả ra các nơi theo kế hoạch.

Cuộc vượt ngục thành công với biết bao mưu trí thông minh và tinh thần tích cực cách mạng của các đồng chí tù chính trị lúc ấy.

046.Cuộc mít tinh chào mừng ngày Quốc tế lao động 1-5-1938 ở Hà Nội được tổ chức như thế nào?

Do bên Pháp, Mặt trận bình dân lên cầm quyền từ 1936 nên ở các thuộc địa một số quyền tự do được thực hiện, trong đó có quyền hội họp. Lợi dụng tình hình này, Xứ uỷ Bắc kỳ và Thành uỷ Hà Nội đã quyết định tổ chức cuộc mít tinh lớn chào mừng ngày Quốc tế lao động 1-5-1938 tại nhà Đấu Xảo (nay là Cung văn hoá hữu nghị Việt Xô).

Thực tế ở nước ta từ khi có chính đảng của giai cấp vô sản, hàng năm tới ngày 1-5 ở các địa phương đều có những hình thức kỷ niệm ngày hội của người lao động. Nhưng phạm vi chỉ ở một vùng, một hạt… Riêng ngày 1-5-1938 này lễ kỷ niệm mới lần đầu được tổ chức công khai tại Hà Nội, do chủ trương của Xứ uỷ Bắc kỳ, có phối hợp với chi nhánh Đảng Xã hội Pháp đứng ra tổ chức.

Vào ngày hôm đó, 16 giờ mít tinh mới bắt đầu, nhưng từ trưa, trên nhiều ngả phố, những dòng người cuồn cuộn tham gia mít tinh đã rầm rập lên đường, chẳng khác nào một cuộc diễu hành! Có tới 25 đoàn, đoàn nào cũng có biểu ngữ ghi rõ đoàn, giới của mình: thợ xe hoả, thợ in, thợ dệt, thở may, nông dân, phụ nữ, thanh niên, nhà văn, nhà báo… Mỗi đoàn có trưởng đoàn đeo băng màu lam. Mỗi ngành, mỗi giới lại có huy hiệu riêng, như huy hiệu bánh xe, búa liềm, kéo, bút viết… Đoàn ít nhất cũng có tới hàng trăm người, đoàn đông trên 1000, đông nhất là đoàn thất nghiệp trên 2000 người.

Đúng 16 giờ các đoàn đã tề tựu ở khu Đấu Xảo, có tới 25.000 người. Tất cả theo sự chỉ dẫn của ban trật tự, đứng vào vị trí đã định. Trước cửa chính có một băng trắng dán hai dòng chữ đỏ (chữ Việt và chữ Pháp) “cơm áo – hoà bình – tự do”. Trước lễ đài có nhiều khẩu hiệu lớn cũng ghi bằng chữ Việt và chữ Pháp: “Đi tới Mặt trận bình dân Đông Dương”, “Tự do nghiệp đoàn”, “Chống nạn thất nghiệp”, “Đi tới phổ thông đầu phiếu”, “Chống phát xít và chống chiến tranh”…

Bắt đầu buổi lễ, mọi người cùng nhau hát bài quốc ca. Sau đó đại biểu các đoàn thể công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ và đặc biệt cả đại diện nhóm Công sản công khai lần lượt đọc diễn văn.

Trước khi bế mạc, toàn thể cuộc mít tinh đồng thanh tuyên thệ” “Chúng tôi, lao động Pháp, Nam thề đoàn kết trong việc làm và trong nền tự do. Chúng tôi xin thề trung thành với Mặt trận bình dân để bênh vực lý tưởng dân chủ và để củng cố nền hoà bình của nhân dân”.

Đây là cuộc mít tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ, một cuộc biểu dương sức mạnh của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành rất quan trọng về nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo của Đảng.

047.Hồ Chủ Tịch viết Tuyên ngôn độc lập tại đâu?

Tại ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ngày nay, trên tường cạnh cửa ra vào ngôi nhà có gắn tấm bảng đá trắng nổi bật lên những dòng chữ vàng: “Trong ngôi nhà này, tại một gác nhỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”.

Như vậy, ngôi nhà đã gắn liền với những ngày Cách mạng tháng Tám vẻ vang của dân tộc, đồng thời lại gắn liền với sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chủ tịch.

Ngày 19-8-1945, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi. Ngày 24-8 Bác Hồ từ Tân Trào về tới thôn Phú Xá và tối đó Bác đã nghỉ ở thôn Phú Gia (cả hai thôn này đều thuộc xã Phú Thượng, quận Tây Hồ). Ngày 25-8 đồng chí Trường Chinh và đồng chí Võ Nguyên Giáp lên đón Bác về ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ô tô không dừng trước cửa chính mà theo cửa số 35 Hàng Cân vào tận sân. Đây là ngôi nhà ba tầng của ông bà Trịnh Văn Bô, thương gia tiến bộ đã tham gia phong trào Việt Minh. Tầng dưới là cửa hàng.Tầng hai và tầng ba là phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ… Vì ở giữa một phố buôn bán sầm uất có cửa hàng lắm người vào ra (dễ che mắt bọn mật thám) lại thông ra Hàng Cân (dễ phân tán) nên trong những ngày tiền khởi nghĩa ngôi nhà này đã từng được chọn làm một trong số các nơi hội họp của Thành bộ Việt Minh. Sau khi cách mạng thành công, ngày 22-8 đồng chí Trường Chinh đã chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng tại đây. Khi Bác Hồ tới, ông bà Trịnh Văn Bô đã dành tầng hai để Bác ở và làm việc cùng các đồng chí Trung ương. Tầng này có nhiều phòng. Phòng lớn nhất rộng trên sáu chục mét vuông. Giữa phòng là chiếc bàn chữ nhật, xung quanh kê tám chiếc ghế tựa có đệm mềm. Chính trên bàn này Bác và các đồng chí Trung ương đã họp quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước. Từ phòng này đi theo hành lang ra phía ngoài tới phòng khách. Tại đây Bác đã tiếp đại biểu các tầng lớp nhân dân trong nước, Việt Kiều và khách nước ngoài.

Cạnh phòng khách có một căn phòng nhỏ, rộng chừng hai chục mét vuông. Đồ đạc đơn giản: một tủ nhỏ, một ghế đi văng, một bàn tròn và một ghế bành. Chính ở đây Bác đã viết Tuyên ngôn Độc lập. Tới nay, tất cả vẫn giữ nguyên vẹn như thời ấy.

048.Cho biết về lăng Bác Hồ?

Ngày 3-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời trong nỗi tiếc thương của toàn Đảng và toàn dân ta. Tuy trong Di chúc, Người có ý muốn được hoả thiêu, nhưng với lòng tôn kính biết ơn và yêu thương Bác vô hạn, lại nghĩ tới lúc thống nhất đất nước đồng bào miền Nam còn được trông thấy Bác và cũng là lưu lại cho muồn đời con cháu.Vì vậy, Đảng và Chính phủ đã chủ trương xây lăng để giữ nguyên thi hài của Người.

Công việc xây dựng lăng chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973, trên vị trí của toà lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, nơi mà mấy chục năm qua Bác Hồ đã từng chủ toạ các cuộc mít tinh lớn. Có thể nói, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, một phần có sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế nhất là các nhà kiến trúc xây dựng hàng đầu của Liên Xô, trực tiếp thiết kế và chỉ đạo thi công, còn lại chủ yếu là sự đóng góp công sức của toàn thể nhân dân Việt Nam. Tuy lúc đó, đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhưng đồng bào ở cả hai miền Nam Bắc, ai cũng muốn đóng góp phần mình.

Cát để xây Lăng được chọn từ suối Kim Bôi của tỉnh Hoà Bình, do bà con dân tộc Mường sàng lọc đem về.

Đá cuội được chuyển từ các máng cuội ở các con suối vùng Sơn Dương, Chiêm Hoá, Ngòi Thia tỉnh Tuyên Quang.

Đá để xây Lăng là đá bóng như sơn then ở núi Nhồi (Thanh Hoá), đá hoa chùa Thầy (Hà Tây), đá đỏ núi Non Nước (Quảng Nam) và vùng núi Tây Nghệ An, đá xanh ở Sơn La, đá đốm trắng ở Điện Biên, đá mã não ở miền Đông Nam Bộ. Riêng hàng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá màu mận chín trên đỉnh Lăng là đá bản Piêu (Trùng Khánh, Cao Bằng). Đá đỏ nền cờ và đá màu vàng sao ở vùng núi phía Tây tỉnh Thanh Hoá.

Nhân dân dọc dãy Trường Sơn cũng gửi ra 16 loại gỗ quý. Bà Nguyễn Thị Định lúc đó là Phó tư lệnh các LLVTGPMN được thay mặt nhân dân miền Nam đưa gỗ và đá quý ra Hà Nội. Tại lễ bàn giao long trọng cho công trường xây dựng Lăng, bà đã phát biểu: “…Đồng bào và chiến sĩ miền Nam lặn lội tìm kiếm trong rừng miền Đông Nam Bộ những cây gỗ quý để góp phần nhỏ bé vào việc xây Lăng Bác. Cây gỗ sống mấy trăm năm trong rừng miền Đông tượng trưng cho sức sống kiên cường bất khuất của nhân dân.”

Thợ xây dựng Lăng được chọn từ những tay thợ lành nghề của các làng nổi tiếng trong nước. Đó là những thợ đấu (đào đất) Hà Tây; thợ ngoã thợ xẻ Hà Nam; thợ đá Sơn Tây; thợ mộc Bình Lục (Hà Nam), Giao Thuỷ (Nam Định), Yên Thế (Bắc Giang); thợ sơn Bắc Ninh; thợ đúc đồng Ngũ Xã (Hà Nội), lính công binh các đoàn Hùng Vương, Bắc Sơn phụ trách vịêc đổ bê tông.

Cây cối trang trí quanh Lăng cũng được đưa về từ khắp các địa phương trong nước. Cây tre từ vùng Nước Hai (Cao Bằng), hoa lan từ Điện Biên (Lai Châu), cây luồng từ rừng núi Thanh Hoá, cây chò nâu từ núi Nghĩa Lĩnh đền Hùng (Phú Thọ), cây dừa nước từ miền Đông Nam Bộ… Và biết bao loài hoa từ các làng hoa khắp mọi miền tổ quốc.

Ngoài ra đồng bào các giới, thanh niên và cả thiếu nhi ở Thủ đô đã tham gia những buổi lao động xã hội chủ nghĩa vào những ngày nghỉ, ngày lể để được đóng góp một chút công sức nhỏ bé của mình trong việc mài đá, trồng cây, nhổ cỏ.

Đến ngày 21-8-1978 đã làm lễ khánh thành lăng.

Lăng gồm ba lớp với chiều cao 21,6 mét. Lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, cấp dưới của bậc thềm là lễ đài dành cho đoàn Chủ tịch các cuộc mít tinh tổ chức ở quảng trường. Lớp giữa là kết cấu trung tâm Lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, nhìn từ mặt nào cũng hình tam cấp. Ở mặt chính có dòng chữ: Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá hồng ngọc màu mận chín.

Bước vào phòng ngoài, óng ánh trên tường đá hoa cương màu đỏ sẫm hàng chữ vàng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, ở dưới là dòng chữ ký quen thuộc của Bác. Lên cầu thang là tới nơi Bác an nghỉ. Trên nền tường ốp đá trắng gắn nổi hình cờ Đảng và cờ nước. Đài hoa – trên đó đặt hòm kính thi hài Bác – được ghép bằng đá đen tuyền lấp lánh muôn ngàn hạt sáng. Cách bố trí lối đi từ ba phía cho phép nhiều người được vào viếng lăng Bác cùng lúc. Qua lớp kính trong suốt, Bác như vừa ngả lưng trong chốc lát. Người vẫn mặc bộ quần áo kaki bạc màu, và dưới chân vẫn là đôi dép cao su giản dị.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi an nghỉ vĩnh hằng của Người, là biểu tượng đời đời lòng tôn kính và biết ơn vô hạn của dân tộc Việt Nam đối với lãnh tụ của mình.

049.Hồ Chủ tịch đã ở Hà Nội từ bao giờ?

Lần đầu Bác đặt chân lên đất Hà Nội là vào ngày 24 tháng  năm 1945. Chiều ngày đó Bác từ chiến khu Việt Bắc về tới thôn Phú Xá và nghỉ đêm ở nhà cụ An, thôn Phú Gia. Cả hai thôn này đều thuộc phường Phú Thượng, quận Tây Hồ và là những nơi mà Trung ương Đảng đã đặt trụ sở bí mật từ năm 1941.
Phủ toàn quyền của Pháp trở thành Phủ chủ tịch từ năm 1954

Ngày 25 Bác về nội thành, ở tại nhà ông bà Trịnh ăn Bô là gia đình yêu nước đã tham gia Mặt trận Việt Minh. Sau ngày 2 tháng 9 – 1945, Bác về ở tại Bắc Bộ phủ (nay là nhà khách Chính phủ số 12 phố Ngô Quyền). Để đề phòng bọn phản động mưu hại, Bác còn có một số chỗ ở khác, như nhà số 8 phố Lê Thái Tổ, một ngôi nhà ở đường Bưởi… những nhà này nay không còn.

Sau ngày hoà bình lập lại năm 1954, Bác về ở tại ngôi nhà sàn trong khu vực Chủ tịch phủ cho đến khi qua đời ngày 2 -9-1969. Suốt thời gian ở Hà Nội, ngoài công việc lớn đại sự là cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cả nước đối phó thù trong giặc ngoài, hoạch định đường lối chủ trương chống giặc xâm lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chủ tịch vẫn dành thời gian cho riêng Hà Nội, như đến thăm các công trường, nhà máy, trường học, bệnh viện, thăm xóm lao động, các cụ già cô đơn, các trẻ nhỏ mồ côi, các công dân, cán bộ có nhiều đóng góp cho xã hội, các đơn vị bộ đội, viếng nghĩa trang liệt sĩ…

Người Hà Nội mãi mãi ghi tạc tình cảm thương yêu  mênh mông của Bác đối với thành phố mình.

050.Cho biết về ngôi nhà sàn của Bác Hồ?

Trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường đẹp rải sỏi, hai bên trồng xoài được gọi là Đường Xoài, dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn, giữa những vòm cây. Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà. Hàng cây dừa toả bóng xanh mát.

Đó là ngôi nhà Bác Hồ do kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh thiết kế và được làm xong ngày 17-5-1958 nhân kỷ niệm sinh nhật Bác lần thứ 68. Bác đã ở và làm việc tại đây từ ngày 17-5-1958 cho tới khi qua đời 3-9-1969.

Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ chính trị, 12 chiếc ghế tựa xếp quanh chiếc bàn rộng, góc nhà có đặt ba chiếc máy điện thoại. Cạnh đó còn úp chiếc mũ sắt bộ đội đã từng theo Bác suốt thời kỳ Mỹ gây chiến tranh phá hoại trên miền Bắc nước ta.

Tầng trên chia hai phòng nhỏ: phòng làm việc và phòng ngủ. Trên bàn làm việc còn chiếc ảnh Lenin của một cán bộ cách mạng lão thành ở Liên Xô gửi tặng.

Bên trong phòng ngủ có chiếc giường đơn bằng gỗ để mộc chiếm nửa phòng, một bàn gỗ nhỏ và chiếc tủ con đặt đầu giường.

Đồ dùng hàng ngày của Bác là hai chiếc quạt, một quạt giấy và một quạt lá cọ; chiếc phích nhỏ, một chai nước nguội, chiếc cốc thuỷ tinh, chiếc chổi tre xua muỗi để góc nhà. Ngoài ra còn có một chiếc radio do Việt Kiều ở Thái Lan biếu và chiếc quạt điện của Đảng Cộng sản Nhật gửi tặng Bác…

Từ nhà sàn nhìn ra là ao cá Bác nuôi, nghe tiếng vỗ tay là cá kéo lên đớp mồi, xôn xao cả một góc ao.

Bao quanh nhà sàn là vườn hoa và cây trái cành lá sum suê. Từ vườn cây, ao cá của Bác biết bao nhiêu cây giống, cá giống được Bác gửi tặng các địa phương gây nên một phong trào . Vườn cây ao cá Bác Hồ lan rộng khắp nơi. Đặc biệt ngay cạnh nhà sàn có cây Vú sữa bên nhà sàn của Bác như góp thêm một minh chứng cho tấm lòng của Người đối với miền Nam yêu thương.

Nhân dân ta từ mọi nơi cũng như bạn bè năm châu đến Hà Nội, ai cũng muốn tới viếng Bác, thăm nhà sàn Bác ở và đi dạo quanh quảng trường Ba Đình lịch sử.

051.Cho biết lịch sử Quảng trường Ba Đình?

Hà Nội là trái tim của nước Việt Nam thì Quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Vì tại đây đã diễn ra những sự kiện trọng đại của Thủ đô và cũng là của cả nước ta.
Lễ Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội ngày 2/9/1945

Nguyên nơi đây vốn là khu đất cửa Tây của thành Hà Nội cổ. Đầu thời Pháp thuộc, thực dân phá thành làm một vườn hoa nhỏ. Năm 1945 mới có tên là vườn hoa Ba Đình. Chữ Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hoá nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9-1886 đến tháng 1-1887.

Ngày 2-9-1945, nửa triệu đồng bào Hà Nội và phụ cận đã đổ về Quảng trường ngày để dự lễ Độc Lập. Lễ đài dựng giữa Quảng trường.

Đúng 14 giờ, các vị trong Chính phủ lâm thời đã có mặt trên lễ đài. Sau lễ chào cờ, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc Lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Mọi người hân hoan, xúc động, im phăng phắc lắng nghe tiếng nói của lãnh tụ. Câu hỏi bình dị của Bác “Tôi nói đồng bào nghe rõ không” đã in sâu vào trái tim hàng vạn đồng bào. Bác đọc xong, Chính phủ lâm thời tuyên thệ. Sau đó Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày tình hình trong nước và chính sách của Chính phủ. Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo công việc tước ấn  kiếm Bảo Đại tại Huế. Đại diện Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng nói về cuộc đấu tranh của nhân dân và kêu gọi đoàn kết, đẩy mạnh quá trình cách mạng. Sau cùng, mít tinh biến thành biểu tình tuần hành trên các đường phố.

Từ đó Quảng trường Ba Đình trở thành nơi tổ chức các cuộc mít tinh lớn mừng Quốc khánh có diễu hành của các tầng lớp quần chúng và có khi có diễu hành của các lực lượng vũ trang.

Đặc biệt vào ngày 9-9-1969, sáu ngày sau khi Hồ Chủ tịch qua đời, cũng tại Quảng trường, lễ truy điệu Người đã được cử hành trọng thể. Mười vạn đồng bảo Thủ đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đã tới đây dự lễ.

Khi lăng Hồ Chủ tịch được xây dựng thì mặt Chính của Quảng trường – mặt tây – là lăng Hồ Chủ tịch. Trước lăng là Quảng trường với 320 mét chiều dài và 100 mét chiều rộng, đủ chỗ cho 20 vạn người dự mít tinh. Quảng trường thực ra là 168 ô cỏ bốn mùa xanh tươi. Ở giữa Quảng trường là cột cờ cao 30 mét.

Quảng trường Ba Đình đã trở thành không gian thiêng liêng của Thủ đô Hà Nội.

052.Phát xít Nhật đến Hà Nội lúc nào?

Năm 1940, với Hiệp ước ký ngày 22-9, Toàn quyền Decoux chính thức dâng Đông Dương cho Nhật. Cuối tháng 10, những toán lính Nhật đầu tiên đến Hà Nội. Cùng lúc là các cơ quan chính trị và mật vụ. Chúng một mặt vẫn lợi dụng triệt để bộ máy chính quyền thực dân Pháp làm tay sai, mặt khác vẫn ngấm ngầm để đối phó với thực dân Pháp. Chúng tập họp một số trí thức bất mãn với Pháp, lập những Đảng chống Pháp. Nhiều đảng phái thân Nhật kiểu này xuất hiện ở Thủ đô Hà Nội là: đảng Đại Việt dân chính của quốc xã của Nguyễn Xuân Chữ, Vũ Đình Dy, đảng Phục quốc của Trương Đình Trí, đảng Việt Nam ái quốc của Trần Văn An, Việt Nam quốc dân đảng của Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, thanh niên ái quốc đoàn của Võ Văn Cầm…

Đi đôi với việc thành lập những đảng phái đó để gây cơ sở chính trị ở Hà Nội, phát xít Nhật có những thủ đoạn lừa bịp, mua chuộc nhân dân bằng những hoạt động văn hoá. Chúng mở phòng triển lãm, chiếu phim và xuất bản những sách những sách báo ca ngợi quân đội Nhật hòng làm cho mọi người lầm tin ở sức mạnh vô địch của chúng. Chúng mở nhiều lớp dạy tiếng Nhật, tuyên bố là để truyền bá văn hoá Nhật nhưng kỳ thực là để đào tạo những người giúp việc. Chúng lại tuyên truyền rộng rãi cho thuyết “Đại Đông Á” để che lấp mục đích xâm lược của đế quốc Nhật và lôi cuốn nhân dân đi với chúng bằng những thủ đoạn như đưa một số học sinh, sinh viên Hà Nội sang Nhật du học và ngược lại. Về nghệ thuật, chúng đưa hoạ sĩ Nhật sang Hà Nội trưng bày tác phẩm, và cho một số hoạ sĩ Hà Nội sang học và trưng bày tác phẩm ở Nhật. Chúng mở Viện Văn hoá Nhật ở Hà Nội và tổ chức những phòng triển lãm trưng bày các hàng Nhật để tuyên truyền cho nền công nghiệp của chúng.

Trước những hoạt động gây cơ sở và ảnh hưởng chính trị của Nhật, thực dân Pháp cũng tìm cách đối phó. Nhân lúc Nhật chưa có đầy đủ điều kiện thuận lợi và cần thiết phải lật đổ chúng. Pháp khủng bố, bắt bớ một số trí thức thân Nhật, làm cho một số khác phải chạy ẩn trong sở Hiến binh Nhật, hoặc được bọn này đưa sang Singapore tạm lánh. Số còn lại phải rút vào hoạt động bí mật chờ thời cơ Nhật lật đổ Pháp.

053.Cuộc đảo chính ngày 9-3-1945 giữa Nhật và Pháp diễn ra như thế nào?

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Quân đội phát xít bắt đầu tấn công vào doanh trại quân đội thực dân từ 8 giờ tối. Mặc dầu đã có chuẩn bị từ trước, quân đội Pháp chỉ kháng cự được đến chiều ngày hôm sau thì đầu hàng. Trung đoàn bộ binh thuộc địa thứ 9 gồm toàn người Âu bị tiêu diệt 40% quân số. Trung đoàn khố đỏ thứ 1 bị tiêu diệt một.
Tướng Nhật Sumita đến Hà Nội

Tiếp đó Nhật nắm chính quyền, tập hợp tất cả các đảng phái thân Nhật ở Hà Nội thành một tổ chức chính trị thống nhất lấy tên là “Đại Việt quốc gia liên minh”, cho một số tên cầm đầu tổ chức này hết lập “Ủy ban hành chính” đến “Ủy ban chính trị” để làm những công việc giữ trật tự và cứu tế cho thành phố Hà Nội. Nhưng chỉ ít ngày, các Ủy ban này phải giải tán vì vừa không đủ uy tín cần thiết giúp cho phát xít Nhật lừa bịp nhân dân, vừa không đủ uy tín cần thiết giúp cho phát xít Nhật lừa bịp nhân dân, vừa là trong nội bộ của các đảng này có mâu thuẫn kèn cựa.

Sau đó, tổng tư lệnh quân đội Nhật tuyên bố tự đảm nhận lấy chức Toàn quyền Đông Dương (16-3-1945), giữ chế độ hiện hữu và bổ người Nhật giữ các chức Thống sứ Bắc kỳ, Khâm sứ Trung kỳ, Thống đốc Nam kỳ, cũng như các chức giám đốc nhà Ngân hàng Đông Dương và các công sở lớn. Hà Nội hoàn toàn trở thành một thành phố thuộc địa của Nhật.

Tới ngày 17-4, chính phủ Trần Trọng Kim thành lập ở Huế. Khâm sai của chính phủ ở Hà Nội vào tháng 5. Hà Nội được phục hồi vào “Đế quốc Việt Nam”(danh từ mà chính phủ Trần Trọng Kim dùng lúc đó) vào tháng 7. Toà đốc lý đổi thành Thị chính với một Thị trưởng người Việt đứng đầu. Những biểu tượng cho ách thống trị của Pháp bị phá huỷ. Các tên phố được thay đổi… Nhưng tất cả những cái đó chỉ có tính chất hình thức, chính quyền ở Hà Nội cũng như toàn quốc thực sự vẫn nằm trong tay Nhật.

Trong khi đó từ tháng 5, Nhật ra sức khủng bố đàn áp phong trào cách mạng đang sôi sục trong lòng Hà Nội. Hàng ngàn thanh niên, học sinh và sinh viên với nhiều người khác nữa bị tình nghi là tham gia cách mạng, bị bắt và bị giam giữ trong các sở hiến binh và nhà pha Hoả Lò với một chế độ nhà tù khắc nghiệt cực độ.

Nhưng nhân dân Hà Nội, dưới lá cờ Việt Minh đã anh dũng đấu tranh, để tới tháng 8 thì cùng cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

054.Thời gian nào Hà Nội được xác định là Thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà?

Thực ra, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ lâm thời họp phiên họp đầu tiên ngày 3-9-1945 tại Hà Nội thì Hà Nội đã được coi là Thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Nhưng nếu theo tính pháp quy thì ở kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá 1 (bầu ngày 6-1-1946) từ 28-10 đến 9-11-1946 mới thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Trong Hiến pháp có quy định Hà Nội là Thủ đô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

055.Ngày Tổng khởi nghĩa 1945 ở Hà Nội diễn ra như thế nào?

Từ đầu năm 1945, quân đội Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường châu Âu. Ngày 8-5-1945, phát xít Đức đầu hàng không điều kiện. Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với quân phiệt Nhật và chỉ trong vài hôm đã tiêu diệt toàn bộ Nhật đóng ở Bắc Trung Quốc đẩy quân Nhật vào thế bại trận không thể tránh khỏi.

Trước tình hình ấy, ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào nhận định thời cơ nhân dân ta giành chính quyền đã tới.

Tiếp đó, ngày 16-8-1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào đã thông qua “Lệnh Tổng khởi nghĩa” và bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng, Trung ương tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta từ Bắc đến Nam đã đồng loạt vùng dậy, tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Cách Mạng Tháng Tám thành công.

Tại Hà Nội, ngày 17-8, “Tổng hội viên chức” của chính quyền bù nhìn đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở quảng trường  Nhà hát thành phố để ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim. Trong cuộc mít tinh này, dưới sự lãnh đạo của xứ uỷ Bắc kỳ và Thành uỷ Hà Nội, quần chúng cách mạng đã trương cờ đỏ sao vàng chiếm lấy diễn đàn. Cán bộ Việt Minh đã thông báo tin quân Nhật đầu hàng và giới thiệu chủ trương đường lối cứu nước của Việt Minh, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh đánh đổ chính quyền bù nhìn thân Nhật. Cuộc mít tinh đã biến thành tuần hành thị uy, bắt đầu từ quảng trường Nhà hát thành phố rầm rộ tiến qua phố Tràng Tiền, Hàng Đào, Hàng Ngang, lên Cửa Bắc qua Phủ Toàn quyền – nơi tư lệnh quân đội Nhật đóng, rồi theo đường Cột Cờ về Cửa Nam. Quần chúng vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh! Đả đảo bù nhìn! Việt Nam hoàn toàn độc lập!”
Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Cả Hà Nội tưng bừng khí thế cách mạng tiến công, sục sôi khởi nghĩa.

Sáng 18-8, Uỷ ban quân sự cách mạng Thành uỷ chuyển từ ngoại thành vào đóng ở số nhà 101 đường Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo) để lãnh đạo nhân dân giành chính quyền.

Ở ngoại thành, cờ đỏ sao vàng trương lên công khai. Một số nơi đã thành lập chính quyền cách mạng.

Sáng sớm ngày 19-8, theo lời kêu gọi của Việt Minh, nhân dân Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường tiến về phía Nhà hát thành phố.

Quần chúng cách mạng và tự vệ cứu quốc tập hợp thành đội ngũ chỉnh tề với khí thế sẵn sàng chiến đấu.

Từ các cửa ô, hàng vạn nông dân ngoại thành và các vùng lân cận tiến về nội thành đổ về dự cuộc mít tinh lớn do Mặt trận Việt Minh tổ chức tại quảng trường Nhà hát thành phố. Họ vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu:

– Đả đảo Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim!

– Thành lập Chính phủ cộng hoà dân chủ Việt Nam!…

Cuộc mít tinh bắt đầu lúc bắt đầu lúc 11 giờ, Đại biểu Uỷ ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh.

Cuộc mít tinh chuyển thành biểu tình vũ trang. Quần chúng cách mạng có tự vệ chiến đấu đi đầu, chia thành nhiều đoàn toả đi chiếm phủ Khâm sai, trại Bảo an binh, Sở cảnh sát và các công sở của chính quyền bù nhìn.

Ở trại Bảo an binh, Nhật ngoan cố cho xe tăng chặn các ngả đường đe doạ, nhưng trước khí thế khởi nghĩa của quần chúng dâng cao như nước vỡ bờ, chúng đành phải nhượng bộ.
Nhân dân Hà Nội chiếm Bắc Bộ phủ ngày 19-8-1945

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi trọn vẹn vào ngày 19-8-1945 ở Hà Nội đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ nhân dân cả nước nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền.

056.Cuộc Toàn quốc kháng chiến nổ ra ở Hà Nội như thế nào?

Phản lại hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Thoả ước 19-4-1946, thực dân Pháp sau khi đổ bộ trái phép lên Đà Nẵng, Đồ Sơn, đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, gây hấn nhiều nơi ở Hà Nội, đã bộc lộ ý đồ đánh úp Thủ đô ta. Ta đã có đề phòng nên chủ động. Và tối 19-12-1946, lúc 20 giờ 3 phút, đèn điện vụt tắt, pháo đài Láng nổ súng báo hiệu cuộc chiến bắt đầu.

Qua 10 ngày chiến đấu, quân và dân Thủ đô đã giành thế chủ động, làm cho quân Pháp bị thiệt hại nặng, buộc chúng phải loanh quanh bảo vệ các vị trí nội thành. Sau khi được tăng quân từ miền Nam ra, từ Hải Phòng lên, chúng mới có điều kiện để đánh ra Liên khu II và III (khi đó Thành phố Hà Nội chia ra 3 Liên khu) và vùng ngoại thành. Nhưng khu trung tâm Thành phố (Liên khu I) vẫn do lực lượng ta chiếm giữ, và phối hợp với vòng ngoài, gây nên thế trong đánh ngoài vây, kìm hãm quân địch. Tới khi chốt được các đầu ô, chúng mới quay lại tấn công khu trung tâm để nhổ cái đinh đã làm cho chúng nhức nhối không yên. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt giành giật từng căn nhà, từng đường phố.

Quân và dân Thủ đô Hà Nội đã làm thất bại âm mưu “đánh chiếm Thành phố trong vòng 24 tiếng đồng hồ” của thực dân Pháp.

Sau khi đã làm cho quân địch thiệt hại nặng và đã giam chân địch được hai tháng, thấy nhiệm vụ vụ kìm chân, tiêu hao địch đã đạt yêu cầu, và cần phải bảo vệ lực lượng, nên cấp trên quyết định để Trung đoàn thực dân rút lui ra ngoài.

Để việc rút quân được an toàn, Bộ tư lệnh và Ủy ban Bảo vệ Hà Nội một mặt tổ chức tự vệ và thuyền bè đón bộ đội qua đường sông ra vùng tự do, một mặt tổ chức nhiều cuộc tiến công vào các vùng ngoại thành và hoạt động du kích ở vùng địch kiểm soát. Những trận đánh này đã kìm giữ và làm lạc hướng quân địch, nhờ đó 8 giờ tối ngày 17 tháng 2 năm 1946, Trung đoàn Thủ đô đã rút ra một cách toàn vẹn, làm thất bại kế hoạch của giặc Pháp định bao vây và tiêu diệt lực lượng ta.

Cuộc rút lui cũng như ngày nổ súng của ta đều làm cho địch hết sức bất ngờ.

057.Việc tiếp quản Hà Nội tháng 10 – 1954 diễn ra như thế nào?

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết (tháng 7-1954). Ủy ban Liên hợp Đình chiến Trung ương làm việc tại Trung Giã (huyện Sóc Sơn), sau nhiều ngày đấu tranh chống sự ngoan cố của quân đội Pháp, đã ký được các Hiệp định về việc chuyển giao Hà Nội vào ngày 30-9-1954 và ngày 2-10-1954. Sau đó, Chính phủ ta đã phái các đội công an, cảnh vệ, hành chính vào Hà Nội để chuẩn bị việc tiếp quản.
Nhân dân Hà Nội vui mừng chào đón đoàn quân chiến thắng vào tiếp quản Thủ đô

Tháng 9-1954, Ủy ban quân chính Thành phố Hà Nội được thành lập do thiếu tướng Vương Thừa Vũ, tư lệnh trưởng Đại đoàn Quân Tiên Phong làm Chủ tịch và bác sĩ Trần Duy Hưng làm Phó Chủ tịch.

Sáng 8-10-1954, các đơn vị bộ đội chia nhiều đường tiến vào ngoại thành Hà Nội. Đến chiều thì tiến đến đường đê La Thành, Vĩnh Tuy, Bạch Mai, Ngã Tư Sở, Ô Cầu Giấy và Nhật Tân.

Sáu giờ sáng ngày 9-10-1954, bộ đội lại theo nhiều đường từ ngoại thành tiến vào nội thành chia làm nhiều cánh toả đi các nơi, lần lượt tiếp thu nhà Ga, phủ Toàn quyền, khu Đồn Thuỷ, khu Bờ Hồ, phủ Thống sứ. 16 giờ quân Pháp rời khỏi thành phố, rút sang phía bắc cầu Long Biên. 16 giờ 30 bộ đội ta đã hoàn toàn kiểm soát tiếp thu thành phố gọn gàng và trật tự.

Bộ đội ta tiến đến đâu, nhân dân Hà Nội đổ ra hai bên đường, phất cờ tung hoa, reo mừng không ngớt. Cổng chào, khẩu hiệu dựng lên khắp các đường phố, cờ đỏ sao vàng rực rỡ trên các tầng nhà.

Ngày 10-10-1954, đại quân vào nội thành.

Từ sáng sớm, nhân dân Thủ đô mang cờ, hoa, ảnh Bác Hồ, kéo tới những con đường đã được thông báo trước là bội đội hành quân qua.

8 giờ: Cánh quân phía Tây xuất phát từ Quần Ngựa (nay là đường thể thao Hà Nội). Đó là những chiến sĩ bộ binh của Trung đoàn Thủ đô. Đoàn qua Kim Mã, Nguyễn Thái Học, Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang… đến 9 giờ 45 tiến vào Cửa Đông.

8 giờ 45: Cánh quân phía Nam thuộc hai Trung đoàn 88, 86 xuất phát từ Việt Nam học xá (nay là trường đại học Bách Khoa) tiến qua Bạch Mai, phố Huế, vòng qua Hồ Gươm rồi vòng lại vào đóng ở khu vực Đồn Thuỷ (nay là bệnh viện 108) và khu Đấu Xảo (nay là Cung văn hoá hữu nghị). Còn Đoàn chỉ huy Tiếp quản gồm cơ giới và pháo binh do Chủ tịch Ủy ban quân quản Vương Thừa Vũ và Phó Chủ tịch Ủy ban Trần Duy Hưng đã dần đầu lúc 9h30 từ sân bay Bạch Mai đến Nga tư Vọng sang Ngã tư Trung Hiền rồi theo đường Bạch Mai lên phố Huế, Hàng Bài, Bờ Hồ, Hàng Đào, Đồng Xuân, vào Cửa Bắc.

15 giờ: Còi Nhà hát Lớn thành phố nổi một hồi dài. Mấy chục vạn nhân dân Hà Nội đã trang nghiêm dự lễ chào cờ do Ủy ban quân chính tổ chức tại sân vận động Cột Cờ với sự tham gia của các đơn vị quân đội. Sau lễ chào cờ, tướng Vương Thừa Vũ trân trọng đọc Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô nhân ngày giải phóng.

Ngày 10-10-1954, Hà Nội sạch bóng quân thù.

(Còn tiế

 

Comments

comments

Share