12734243_826835217428558_5464426998038756157_n

CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI VIỆT TRUNG 17-2-1979 (4)

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT NAM & TRUNG QUỐC (Từ 17-2 Đến 18-3-1979) – DIỄN BIẾN CHÍNHI- SƠ LƯỢC TIẾP THEO KỲ TRƯỚC
Từ ngày 2-4-1984 đến 28-4-1984, địch tập trung pháo binh bắn phá khu vực Vị Xuyên, từ điểm cao 1545 đến điểm cao 1030.
Trong 26 ngày đêm địch đã bắn tổng cộng 30.000 viên đạn pháo cối các loại.
Riêng từ ngày 28-4 đến 30-4-1984, địch bắn 12.000 quả đạn pháo vào 6 điểm tựa của ta để chi viện cho bộ binh của chúng (thuộc sư đoàn 40, quân đoàn 14 ĐQK Côn Minh) tấn công đánh chiếm các điểm cao 226, 233, bình độ 300-400, 1509, 772, 685. Trong 2 ngày địch đã đánh chiếm được 226, 233, 772, 1509, bình độ 300-400, E1, 685 do trung đoàn 122 (sư đoàn 313 QK2) của ta phòng ngự, lấn vào lãnh thổ VN khoảng 2 km.
Ngày 15-5-1984, địch mở đợt tiến công Đông sông Lô (từ điểm cao Si Cà Lá đến M13) với lực lượng 1 trung đoàn tăng cường (sư đoàn 40, quân đoàn 14 ĐQK Côn Minh).
Sau 1 ngày chiến đấu, địch đã chiếm được các điểm cao 1030, Si Cà Lá, 1250, đài 2, M13 do trung đoàn 266 (sư đoàn 313 QK2) của ta phòng ngự.
Như vậy, từ 28-4 đến 16-5-1984, địch đã chiếm 18 điểm, triển khai phòng ngự chốt giữ 29 điểm trên lãnh thổ VN. Trong đó có khu 1509, 772 mà chúng gọi là Lão Sơn, khu 1250, 1030, Si Cà Lá (Núi Bạc) mà chúng gọi là Giả Âm Sơn.
Tháng 6-1984, Bộ Tư lệnh mặt trận của ta quyết định tổ chức tiến công để giành lại các chốt bị chiếm đóng. Lực lượng tham gia đợt tiến công này gồm 3 trung đoàn .
– Trung đoàn 141 (sư đoàn 312 QĐ1) đánh 1030, Si Cà Lá.
– Trung đoàn 174 (sư đoàn 316 QK2) đánh 233, bình độ 300-400.
– Trung đoàn 786 (sư đoàn 356 QK2) đánh 772 phát triển sang 685.
Cần lưu ý rằng tuy gọi là trung đoàn nhưng lực lượng thực sự tham gia chiến đấu chỉ có 1-2 tiểu đoàn.
Ngày 12-7-1984, ta nổ súng tiến công địch. Tuy đã chiến đấu rất quyết liệt nhưng đợt tiến công của ta đã không thành công.
Đến tháng 11-1984, Bộ Tư lệnh mặt trận hạ quyết tâm mở tiếp một đợt tấn công vây lấn. Lần này các đơn vị có 4 tháng chuẩn bị.
– Các đơn vị thuộc sư đoàn 313 QK2 vây lấn địch ở bình độ 300-400.
– Các đơn vị thuộc sư đoàn 356 QK2 vây lấn địch ở 685.
Đợt chiến đấu kéo dài từ 18-11-1984 đến 18-1-1985 (ta ngừng tiến công vào dịp Tết Nguyên đán). Mặc dù chưa khôi phục hoàn toàn khu vực A5, 300-400, 685 nhưng ta đã giành lại được một số chốt, hình thành thế phòng ngự xen kẽ, bám sát địch, có nơi chỉ cách địch 15-20 m như đồi Chuối, đồi Cô X, đồi Đài, A4, khu Cót Ép, khu E và mỏm E2, E3, E5 của 685. Cá biệt có những nơi như ở Bốn hầm, chốt của ta và địch chỉ cách nhau 6-8 m.

Trong 2 năm 1985-1986, địch tiếp tục mở nhiều đợt tiến công lấn chiếm trận địa của ta. Chiến sự diễn ra khá quyết liệt, có những nơi như ở Bốn hầm ta địch giành giật nhau tới 38 lần, điểm cao 685 41 lần, đồi Cô X 45 lần.
Pháo cối địch tiếp tục bắn phá hàng vạn quả đạn vào lãnh thổ ta. Riêng trong 3 ngày từ 5-1 đến 7-1-1987, pháo địch đã bắn 100.000 quả đạn.

Kể từ năm 1987 trở đi, chiến sự ở mặt trận biên giới Vị Xuyên dần dần lắng xuống. Ngày 21-12-1988, lần đầu tiên địch ngừng bắn pháo vào Vị Xuyên, nơi chưa hề có một ngày im tiếng pháo kể từ năm 1984 (nhưng sau đó thì chúng tiếp tục bắn). Từ năm 1989, địch giảm bắn pháo và rút khỏi một số điểm ở phía Bắc suối Thanh Thủy.

Ngày 13-3-1989, địch rút khỏi 20 điểm chiếm đóng và đến tháng 9-1989, địch rút khỏi 9 điểm còn lại.
Kết quả chiến đấu :
– Trong 5 năm tác chiến, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 15.000 tên địch, bắt 325 tù binh (bắt 6 tên trong chiến đấu và 319 tên thám báo, trinh sát đột nhập).
– Đánh thiệt hại nặng 4 trung đoàn, 43 tiểu đoàn, 18 đại đội, 10 trung đội; đánh thiệt hại vừa 4 tiểu đoàn, 5 đại đội, 4 trung đội; đánh thiệt hại nhẹ 4 tiểu đoàn, 7 đại đội, 10 trung đội.
– Phá hủy 100 khẩu pháo các cỡ, 100 khẩu súng cối các cỡ, tiêu diệt 13 trận địa pháo cối, 170 xe vận tải, 130 kho tàng, 1.550 ụ súng, lô cốt, hoả điểm, đài quan sát của địch …
– Thu 50 khẩu súng bộ binh, 50 máy thông tin cùng một số khí tài khác.
Tổng cộng trong thời gian từ 1984-1989, địch đã bắn vào khu vực Vị Xuyên 1.858.613 quả đạn pháo cối các loại. Trung bình mỗi ngày từ 10.000-20.000 quả. Có đợt 3 ngày (5 đến 7-1-1987) bắn 100.000 quả. Có ngày bắn tới 61.115 quả.
Theo nguồn tin BBC, thiệt hại là quân ta: 35-40 ngàn, Trung Quốc: 25-30 ngàn. Và sau khi kết hiệp định biên giới năm 1990, “ta MẤT NÚI LÃO SƠN”. Về chiến lược và sức mạnh quân sự TQ thắng ta hoàn toàn.
Sau năm 1990 đến nay TQ vẫn tiếp tục xây dựng sân bay, pháo đài và liên tục tăng cường hạm đội ở quần đảo Hoàng Sa. Hải quân và lực lượng biên phòng của ta ở Trường Sa vẫn luôn trong tình trạng cảnh giác cao độ.
(tổng hợp nhiều nguồn trong tài liệu và trên mạng).

II- CHIẾN DỊCH DÂN VẬN CỦA TQ
Theo truyền thống, TQ đề cao việc tuyên truyền chính trị cho binh sĩ và dân chúng của mình về chính nghĩa của họ trong việc cần thiết tiến hành cuộc chiến trừng phạt VN. Ngay từ trước khi quân TQ vượt biên giới đánh vào Việt Nam, cả hai bên đã lớn tiếng cáo buộc nhau có các hành vi gây hấn trên tuyến biên giới.
Theo phía TQ, quân VN đã tiến hành hơn 1.100 vụ xâm nhập trên biên giới.
Đối lại, VN cho biết việc quân TQ tiến hành khiêu khích diễn ra hàng ngày. Cùng với việc quan hệ chính trị trở nên căng thẳng, số vụ xung đột vũ trang tại biên giới cũng tăng lên, từ khoảng 100 vụ năm 1974 lên tới hơn 900 vụ năm 1976. Việc TQ chiếm Hoàng Sa năm 1974 cũng như việc VN đưa quân tiếp quản Trường Sa cũng góp phần khiến nguyên nhân bất đồng giữa hai phía trở nên sâu sắc.
TQ tuyên truyền trong nhân dân rằng đây là cuộc chiến phản công chống VN để bảo vệ lãnh thổ quốc gia ; tuyên truyền với quân đội rằng chiến dịch quân sự này được tiến hành để trừng phạt nhà cầm quyền VN, cụ thể là “bè lũ Lê Duẩn”, và rằng quân đội TQ cần giành được sự ủng hộ của nhân dân VN. Chiến dịch vận động quần chúng của TQ tỏ ra có kết quả với dân chúng và cán bộ TQ tại vùng biên giới, khiến họ có thể huy động hàng chục vạn dân công tham gia các hoạt động bảo đảm an ninh và tiếp tế cho quân đội.
Đối với dân thường VN, TQ bỏ ra nhiều công sức tuyên truyền lôi kéo người dân vùng biên, đặc biệt là với các dân tộc thiểu số sống vắt qua biên giới hai nước như: Tày, Nùng (ở TQ gọi là dân tộc Choang), Dao, Hmong và các nhóm người thiểu số gốc Hoa.
Kết quả là trong ngày đầu của cuộc chiến, có nơi, quân TQ đã được dân dẫn vòng qua đồn biên phòng tiến sâu vào đất Việt Nam mà không bị phát hiện.
Phục vụ công tác dân vận tại các khu vực chiến sự, TQ còn thành lập các đơn vị đặc biệt mà nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức cũng như kiểm tra hoạt động của các đội vận động quần chúng trong tất cả các đơn vị quân.
Theo đó, quân TQ tiến sang VN phải giảm tối thiểu những hành động gây xáo trộn, phiền hà đến dân chúng, tôn trọng phong tục tập quán, tài sản, cung cấp gạo, muối, dầu thắp, thuốc chữa bệnh … cho dân cư bản địa (chính sách này được một số đơn vị TQ ở vùng Lào Cai thực hiện)
Tuy nhiên, quân TQ đã thực hiện nhiều hành động như giết chóc, đốt phá, ngay cả sau khi đã tuyên bố rút quân. Hầu hết các thị xã thị trấn mà TQ chiếm được đều bị phá hủy một cách có hệ thống:
– Tại thị xã Cao Bằng, quân TQ dùng thuốc nổ phá sập bất cứ công trình gì từ công sở đến bưu điện, từ bệnh viện đến trường học, từ chợ đến cầu.
– Tại Đồng Đăng, quân TQ lấy đi tất cả những gì có thể mang theo, từ xe đạp cho đến thanh ray tàu hỏa, những gì không mang về được đều bị đập phá.
– Tại thị xã Cam Đường trên bờ sông Hồng, cách biên giới khoảng 10km, ngoài việc phá hủy thị xã, quân TQ còn cho đốt cả mỏ apatit.
O’Dowd tổng kết là chính sách dân vận của quân TQ tỏ ra không thành công đối với người dân VN. Ông lý giải rằng “người VN rất yêu nước, thấm nhuần tư tưởng chính trị, giỏi chịu đựng, không dễ bị lung lạc …”. Ngoài ra, những hành động tàn phá, giết chóc dân thường, cũng như ngược đãi tù binh của quân TQ đã gây hại cho nỗ lực dân vận của họ. Những hành động này:
– Một phần là do binh lính TQ đa số là dân dưới mức nghèo khổ nên cướp.
– Một phần khi sang VN họ bị sốc vì sự khốc liệt bởi sức kháng cự mãnh liệt của quân cũng như của dân bản địa VN.
– Một phần nằm trong các phá hoại có kế hoạch và tổ chức được định sẳn, ví dụ như xóa sổ thị xã Lạng Sơn ra khỏi bản đồ.
Hoạt động lôi kéo người thiểu số tại biên giới của TQ cũng không đạt được kết quả như mong đợi. Khi quân TQ từ quân khu Vân Nam rút về nước, tất cả những điệp viên và quân du kích người thiểu số mà họ gây dựng được khi chiếm đóng các khu vực biên giới trong thời gian chiến dịch đều bị lực lượng an ninh Việt Nam bắt giữ và xử tử sạch sẽ.
Chiến tranh tâm lý của TQ với các lực lượng phòng thủ của VN cũng thất bại. Trong suốt cuộc chiến, hiếm có đơn vị nào của Việt Nam không đánh trả quyết liệt quân TQ. Quân TQ cuối cùng cũng hiểu rằng ngoài việc sử dụng sức mạnh quân sự, họ không có hy vọng giành thắng lợi trong chiến tranh tuyên truyền chính trị.

III- PHẢN ỨNG QUỐC TẾ
Ngay khi cuộc chiến nổ ra, Hoa Kỳ tuyên bố giữ vị trí trung lập và kêu gọi “sự rút quân lập tức của VN khỏi Campuchia và TQ khỏi VN”, nói rằng “việc TQ xâm lược VN là sự tiếp nối của việc VN xâm lược Campuchia”. Nhưng theo đánh giá của Nayan Chanda, Hoa Kỳ đã là quốc gia phương Tây duy nhất gần như ủng hộ cuộc xâm lược VN của TQ ; trái với lời lên án việc VN tiến đánh Khmer Đỏ là “một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định trong khu vực”, tuyên bố của Mỹ về cuộc tấn công của TQ có hàm ý bào chữa rằng “việc TQ thâm nhập biên giới VN là kết quả của việc VN xâm lược Campuchia”.
Ngoài Hoa Kỳ, thì đa số các quốc gia phương Tây phản đối mạnh mẽ hành động quân sự của phía TQ, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại giao bước đầu mở cửa của Bắc Kinh khi đó.
Ngày 18 tháng 2, Liên Xô viện dẫn hiệp định ký với VN, thúc giục TQ “ngừng trước khi quá muộn” và đòi TQ rút quân lập tức và toàn bộ. Trong thời gian xảy ra cuộc chiến, Liên Xô đã lên án cuộc tấn công của TQ là “hành động man rợ bất chấp đạo lý của kẻ cướp”, đòi TQ lập tức chấm dứt “cuộc chiến tranh xâm lược”, và cảnh báo TQ về lòng trung thành của Liên Xô đối với hiệp ước quân sự Xô-Việt. Ngoài ra, Liên Xô không có hành động can thiệp quân sự mà chỉ hỗ trợ vận chuyển bằng hàng không và triển khai hải quân ngoài bờ biển VN nhằm tránh đổ vỡ quan hệ vốn đã căng thẳng với TQ. Liên Xô cũng cảnh báo TQ về việc đặt các lực lượng vũ trang Xô Viết ở Siberi vào tình trạng báo động đồng thời cung cấp cho VN các thông tin quân sự thu được từ vệ tinh do thám. Bản thân chính quyền Hà Nội, vốn giữ chiến thuật phòng thủ trong cuộc chiến, cũng từ chối sự tham gia của các phi công Liên Xô vào các trận đánh. Do không tham gia về quân sự, nên ngày 10 tháng 3, Liên Xô hứa sẽ tăng viện trợ quân sự cho VN.
Sau khi biết tin TQ rút quân, nhật báo Pravda của Liên Xô cũng đưa ra bình luận rằng “Liên Xô hiểu được dã tâm của Bắc Kinh vì vậy đã không đáp lại những khiêu khích quân sự của TQ với mục đích duy nhất là làm leo thang căng thẳng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ”.
Đêm hôm TQ tuyên bố rút quân, Cuba cảnh báo TQ là nước này sẽ hỗ trợ VN, kể cả việc đưa quân đến nếu cần.
Tại Liên Hợp Quốc, tranh cãi kịch liệt xảy ra xung quanh vấn đề an ninh ở Đông Nam Á. Hai sự kiện VN đánh vào Campuchia lật đổ chế độ Khmer Đỏ và TQ đánh vào VN cùng được đưa ra bàn luận. Hội đồng Bảo An bị chia rẽ sâu sắc sau các cuộc họp vào các ngày cuối tháng 2:
– Các nước ASEAN muốn tất cả các lực lượng quân sự nước ngoài rút quân về nước. Mỹ ủng hộ lập trường này.
– Liên Xô tuyên bố không ủng hộ bất cứ nghị quyết nào không lên án TQ và đòi TQ rút quân.
Ngày 23 tháng 2, Liên Xô cùng Tiệp Khắc đưa dự thảo nghị quyết trong đó lên án TQ xâm lược, đòi TQ rút quân và bồi thường chiến tranh cho VN, và kêu gọi cấm vận vũ khí đối với TQ. Còn TQ thì chỉ trích Liên Xô “khuyến khích VN tấn công TQ và xâm lược Campuchia”.
Ngày 24 tháng 2, TQ đưa dự thảo nghị quyết đòi VN “lập tức rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia”.
Cuối cùng, Liên Hợp Quốc không đi đến được một nghị quyết nào.

IV- KẾT QUẢ CUỘC CHIẾN
Tuy VN và TQ đều tuyên bố “chiến thắng” trong cuộc chiến nhưng cả hai bên đều phải chịu thiệt hại nặng nề về người và của.
Cuộc chiến để lại đặc biệt nhiều tác hại lớn cho phía VN.
Ngoài các thương vong về con người, tổn thất cụ thể về cơ sở vật chất hạ tầng ở 6 Tỉnh biên giới bị phá hủy do trận chiến, VN còn phải gánh chịu nhiều khó khăn, thiệt hại do thái độ và chính sách thù địch, vây hãm mà TQ và đồng minh của TQ gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao …

V- THƯƠNG VONG & THIỆT HẠI
Các con số thương vong từ các nguồn khác nhau có nhiều mâu thuẫn:
– Theo tướng Ngũ Tu Quyền, phó tổng tư lệnh Quân giải phóng TQ, số quân VN bị chết và bị thương là 50.000, trong khi con số tương ứng của TQ là 20.000.
– Theo nhà sử học Gilles Férier thì có khoảng 25.000 lính TQ thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép hoặc pháo bị phá hủy, con số này phía VN cũng là gần tương tự nhưng thấp hơn một chút.
– Russell D. Howard cho rằng quân TQ thương vong 60.000 người, trong đó số chết là 26.000, một số nguồn khác cũng đồng ý với con số thương vong ít nhất khoảng 50.000 của phía TQ.
– Nguồn của King Chen nói rằng riêng tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất 30.000 thương binh TQ.
– Tháng 4 năm 1979, Tạp chí Quân đội Nhân dân của VN ước lượng tổng thương vong của quân TQ là 62.500 người. Phía VN có hàng nghìn dân thường chết và bị thương.
– Theo tạp chí Time thì có khoảng dưới 10.000 lính VN thiệt mạng (con số này phía TQ là trên 20.000). Phía TQ bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn 50 ngàn quân VN tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.

Theo tuyên bố của Việt Nam, kết quả chiến đấu của họ như sau:
– Mặt trận LẠNG SƠN: diệt 19.000 lính TQ, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp và 52 xe quân sự, 95 khẩu pháo-cối và giàn phóng hoả tiễn, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 4 tiểu đoàn (có hơi khác biệt so với ký sự Sư đoàn Sao Vàng).
– Mặt trận CAO BẰNG: diệt 18.000 lính TQ, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn.
– Mặt trận Hoàng Liên Sơn (LÀO CAI): diệt 11.500 lính TQ, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn.
– Mặt trận QUẢNG NINH, LAI CHÂU và HÀ TUYÊN: diệt 14.000 lính TQ, phá hủy 4 xe tăng, thiết giáp, 6 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn

Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế cho VN:
Các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống.
Để nhận được tăng cường viện trợ từ phía Liên Xô, từ 27 tháng 3 năm 1979, VN quyết định cho tàu quân sự Liên Xô đóng ở cảng Cam Ranh.

Về phía Bắc Kinh, cuộc chiến ngắn ngày đã tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh hưởng lớn tới quá trình cải tổ kinh tế.
Về lâu dài, nó mở đầu cho hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ và xung đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia, buộc VN phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ dọc biên giới, gây hậu quả xấu đến nền kinh tế. Sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng biên giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, nhiều cột mốc biên giới cũng bị quân TQ phá hủy, gây khó khăn cho việc hoạch định biên giới sau này.

VI- ĐÁNH GIÁ
Cả VN và TQ đều tuyên bố chiến thắng.
1- PHÍA TQ:
Đặng Tiểu Bình khẳng định mặc dù có một số thất bại về quân sự nhưng TQ “đã đạt được chiến thắng về chính trị và chiến thắng chung cuộc”.
Bình còn khẳng định quân TQ “đã có thể tiến thẳng tới Hà Nội nếu muốn”.
Quan điểm ít phổ biến hơn là của Trần Vân (Phó Thủ tướng, một trong 5 nhân vật quan trọng nhất của Đảng Cộng sản TQ cùng với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và Chu Đức) rằng việc chiếm được Hà Nội không phục vụ được mục đích gì, cuộc chiến sẽ có chi phí nặng nề quá sức chịu đựng nếu kéo dài thêm 6 tháng nữa, và vì lý do tài chính không nên lặp lại một cuộc chiến không phân thắng bại như vậy.
Theo đánh giá của tác giả King C. Chen, quân TQ có lẽ đã đạt được 50-55% các mục tiêu có giới hạn của mình. Bên cạnh thành công trong việc bám theo được khá sát các kế hoạch tiến quân và rút quân, quân TQ đã không đạt được kết quả như các mục tiêu đã công bố:
– Họ đã không tiêu diệt được sư đoàn nào của VN.
– Không chấm dứt được xung đột có vũ trang tại vùng biên giới.
– Không buộc được VN rút quân khỏi Campuchia .
– Không gây được ảnh hưởng lên chính phủ VN trong vấn đề Hoa kiều. Điểm yếu của quân TQ là vũ khí và phương tiện lạc hậu.
Ngoài ra, họ đánh giá thấp sức mạnh quân sự của VN. Sự thiếu kinh nghiệm chiến đấu và tinh thần kém cũng nằm trong các điểm yếu của quân TQ.

Về quân sự, tác giả Edward C. O’Dowd đánh giá rằng quân TQ đã thể hiện trình độ chiến đấu kém trong cuộc chiến:
– Tại Lạng Sơn, 2 quân đoàn TQ đã bị một trung đoàn VN cầm chân trong 1 tuần, một quân đoàn khác cần 10 ngày để lấy Lào Cai và Cam Đường (hai đô thị cách biên giới không đến 15 km).
– Trung Quốc chiếm Cao Bằng vất vả đến mức cần ít nhất 2 quân đoàn để tiếp tục tấn công một thị xã mà TQ tuyên bố đã chiếm được.
– Tại Quảng Ninh, một trung đội VN đã cầm chân 5 tiếng đồng hồ một trung đoàn TQ đang trên đường chiếm núi Cao Ba Lanh giáp biên giới, gây thương vong cho 360 trong quân số 2.800 của trung đoàn này.
Những tổn thất nhân mạng như vậy lặp lại trên toàn mặt trận và đem lại ít hiệu quả. Quân TQ đã không sử dụng được số quân đông một cách hiệu quả bằng các chiến thuật thích hợp và do đó không thể đạt được tốc độ hành binh như mong muốn của chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” (tốc chiến tốc quyết). Đây là hậu quả của sự lạc hậu về chiến thuật tác chiến của quân đội TQ vốn gần như không được cải thiện kể từ sau chiến thuật biển người ở chiến tranh Triều Tiên những năm 1950.
Thất bại về mặt chiến thuật đã buộc Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản TQ đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa quân đội nước này.

2- PHÍA QUỐC TẾ
Trên phương diện quan hệ quốc tế, cuộc chiến Việt-Trung cho thấy rằng TQ, với sự ủng hộ từ phía Hoa Kỳ, sẵn sàng can thiệp quân sự vào VN (một quốc gia cộng sản từng là đồng minh trong nhiều năm).
Kết quả chiến tranh cũng cho thấy miền Bắc VN đủ sức chống lại sự can thiệp quân sự đó mà không cần phải điều động quân chủ lực từ biên giới Tây Nam và miền Nam VN ra.
Những sự kiện từ cuộc chiến cho thấy mối quan hệ ngoại giao phức tạp Liên Xô – TQ – VN với kết quả là TQ “không thể tung” toàn bộ lực lượng vào cuộc chiến nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học” vì chịu sức ép từ phía Liên Xô, đồng thời Liên Xô cũng “không sẵn sàng” tung quân đội vào tham chiến để bảo vệ đồng minh mà chỉ tập trung viện trợ kinh tế, quân sự.
Kết quả cuộc chiến cũng cho thấy TQ bất lực trong việc hỗ trợ đồng minh Khmer Đỏ trong cuộc chiến với VN và thất bại trong việc điều chỉnh quan hệ ngoại giao để tăng cường ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á.
Nhiều quan điểm khác cho rằng TQ đã thất bại về quân sự nhưng lại đạt được một số thành công về chiến lược, trong đó có việc chứng tỏ cho các nước Đông Nam Á rằng họ sẵn sàng dùng vũ lực nếu vị thế và uy lực của mình bị thách thức.

VII- HẬU CHIẾN
Xung đột biên giới VN-TQ 1979-1990 và vấn đề lãnh thổ biên giới VN-TQ
Khi quân TQ rút khỏi VN tháng 3 năm 1979, TQ tuyên bố họ không tham vọng dù “chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam”?
– Trên thực tế, quân TQ chiếm đóng khoảng 60 km2 lãnh thổ có tranh chấp mà VN kiểm soát trước khi chiến sự nổ ra.
– Tại một số nơi như khu vực quanh Hữu Nghị Quan gần Lạng Sơn, quân TQ chiếm đóng các lãnh thổ không có giá trị quân sự nhưng có giá trị biểu tượng quan trọng.
– Tại các nơi khác, quân TQ chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp để từ đó có thể tiến đánh VN sau này.
Việc TQ chiếm đóng các lãnh thổ biên giới làm cho VN căm giận.
Và giữa hai phía nổ ra một loạt trận giao tranh nhằm giành quyền kiểm soát các khu vực đó. Xung đột biên giới giữa VN-TQ vẫn tiếp diễn cho đến năm 1988, lên cao vào các năm 1984-1985:
– Trong tháng 5-6 năm 1981, quân TQ mở cuộc tấn công vào đồi 400 (mà TQ gọi là Pháp Tạp Sơn) ở huyện Cao Lộc, Lạng Sơn, xa hơn về phía tây, quân TQ cũng vượt biên giới đánh vào các vị trí quanh đồi 1688 ở tỉnh Hà Tuyên. Giao tranh diễn ra hết sức đẫm máu với hàng trăm người thuộc cả hai bên thiệt mạng.
– Tới năm 1984, quân TQ lại dùng nhiều tiểu đoàn mở các đợt tấn công lớn vào Lạng Sơn. Đặc biệt tại Hà Tuyên, trong tháng 4-tháng 7 năm 1984, quân TQ đánh vào dải đồi thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang mà TQ gọi là Lão Sơn. Quân TQ chiếm một số ngọn đồi thuộc dải đồi này, giao tranh kéo dài dằng dai, nhưng không có nơi nào quân TQ tiến sâu được hơn vào lãnh thổ VN quá 5 km, dù quân số đông hơn nhiều.

Cuộc chiến năm 1979 cho TQ thấy sự lạc hậu của vũ khí cũng như chiến thuật mà quân đội nước này sử dụng.
Do đó, sau cuộc chiến là bắt đầu của một cuộc cải cách và hiện đại hóa mạnh đối với Quân giải phóng TQ, ngày nay công cuộc hiện đại hóa này vẫn tiếp tục. Ảnh hưởng trực tiếp có thể thấy là ngân sách dành cho quốc phòng của Trung Quốc tăng từ 15% năm 1978 lên 18% năm 1979.

Quan hệ xấu với TQ đã làm VN đã phải trả một cái giá rất đắt.
Việc TQ duy trì áp lực quân sự tại vùng biên giới trong suốt 10 năm sau đó buộc VN cũng phải duy trì lực lượng phòng thủ lớn ở biên giới và miền Bắc. Cùng với việc bị sa lầy với chiến sự dai dẳng ở Campuchia mà TQ muốn kéo dài, VN bị cô lập trong 10 năm đó trên trường quốc tế.
Nền kinh tế yếu kém và bị Mỹ cấm vận phải căng ra duy trì một lực lượng quân đội lớn, và phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của Liên Xô.
Sau năm 1979, tình hình kinh tế miền Bắc VN tệ hại đi rất nhiều so với thời kỳ trước đó. Trong khi đó, TQ phát triển mạnh từ năm 1978 do công cuộc cải tổ kinh tế của Đặng Tiểu Bình (7 năm sau chiến tranh biên giới, VN mới bắt đầu thời kỳ Đổi Mới, khi đó đã chậm hơn TQ 8 năm).
Sau khi Liên Xô tan rã và VN rút quân khỏi Campuchia, đến năm 1992 quan hệ giữa hai nước mới được bình thường hóa chính thức.

Từ khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước được cải thiện, cuộc chiến hầu như không còn được nhắc đến trong các phương tiện truyền thông đại chúng, không được nói đến trong sách giáo khoa lịch sử ở TQ và một cách hạn chế tại SGK của VN. Tại TQ, các phương tiện truyền thông gần như lãng quên nó, các tuyển tập bài hát không còn in các ca khúc nói về cuộc chiến, sách nghiên cứu viết về cuộc chiến bị từ chối xuất bản, đa số cựu chiến binh từng tham gia cuộc chiến không ai muốn nhắc đến nó.
Ở VN, một số ca khúc có nội dung về cuộc chiến, ví dụ “Chiến đấu vì độc lập tự do” của Phạm Tuyên, không còn được lưu hành trên các phương tiện truyền thông chính thống … Đó là theo một thỏa thuận giữa VN-TQ nhằm bình thường hóa hoàn toàn quan hệ giữa hai nước.

Chính phủ VN để ý chặt chẽ các nội dung báo chí liên quan đến quan hệ Việt – Trung, và báo chí hầu như không được nhắc đến cuộc chiến.
Theo giải thích của ông Dương Danh Dy, cựu Bí thư thứ nhất Đại sứ quán VN tại Bắc Kinh, thì:
“VN không nói lại chuyện cũ là vì nghĩa lớn, chứ không phải vì chúng ta không có lý, không phải vì người VN sợ hãi hay chóng quên”.
Khi được hỏi về cuộc chiến từ 30 năm trước, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao TQ nói rằng: Từ nhiều năm trước lãnh đạo hai nước đã “thỏa thuận bỏ lại quá khứ và mở ra tương lai”???

Năm 2009, 30 năm sau cuộc chiến, VN-TQ hoàn thành việc cắm 1971 mốc phân định biên giới sau khi hai chính phủ ký kết hiệp định biên giới, kết thúc đàm phán về các khu vực tranh chấp dọc biên giới./.

Sưu tầm tổng hợp
(còn tiếp)

Comments

comments

Share