12742477_825257307586349_6776425461741469464_n

CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI VIỆT TRUNG 17-2-1979 (3)

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT NAM & TRUNG QUỐC (Từ 17-2 Đến 18-3-1979) – BÂY GIỜ MỚI KỂ
Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 là một cuộc chiến tranh ngắn, nhưng thật khốc liệt giữa Tàu và VN, nổ ra vào vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Tàu đem quân tấn công VN trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước. Chiến tranh biên giới Việt-Trung xuất phát từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia và ý đồ “dạy cho Việt Nam một bài học” của Đặng Tiểu Bình, kéo dài trong chừng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía. Cuộc chiến kết thúc khi Tàu hoàn thành rút quân vào ngày 18 tháng 3 năm 1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên. Mục tiêu của Tàu buộc VN rút quân khỏi Campuchia không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế VN và quan hệ căng thẳng giữa hai nước.
Xung đột vũ trang tại biên giới còn tiếp diễn thêm 10 năm. Mãi đến 13 năm sau, quan hệ ngoại giao Việt-Trung mới chính thức được bình thường hóa.

I- TÊN GỌI
Cuộc chiến được phía VN gọi là chiến tranh “bảo vệ biên giới phía Bắc”. Phía Tàu gọi là chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN: “đối Việt tự vệ hoàn kích chiến” (trên nghĩa rộng là chỉ xung đột biên giới Việt-Trung trong gần 10 năm từ năm 1979 đến năm 1989), dân gian quen gọi là chiến tranh phản kích tự vệ trước VN: “đối Việt tự vệ phản kích chiến”. Nhiều nhà nghiên cứu coi cuộc chiến này là một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3

II- BỐI CẢNH
Tuy được sự giúp đỡ rất lớn của CSTQ trong chiến tranh Đông Dương và chiến tranh VN, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa VNDCCH và CSTQ đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968. Hà Nội nhất định cùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moskva lẫn Bắc Kinh trong khi mâu thuẫn giữa CS Liên Xô và CSTQ đã lên cao. Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh về cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam VN trở nên rõ rệt. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất Tổ quốc của họ. Và hơn thế nữa, họ muốn trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông qua một nước nào làm trung gian. Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Hà Nội bắt đầu đàm phán với Hoa Kỳ, trong khi đó Bắc Kinh phản đối.
Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏa thuận giữa Mỹ và CSTQ được VNDCCH xem là một sự phản bội.
Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Lê Duẩn thẳng thừng từ chối đưa VNDCCH vào liên minh chống CS Liên Xô của CSTQ, phủ nhận quan niệm của CSTQ rằng chủ nghĩa bành trướng của CS Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á. Lê Duẫn rời TQ mà không tổ chức tiệc đáp lễ theo truyền thống, cũng không ký thỏa thuận chung. Cũng trong chuyến thăm này, TQ thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973. Bắc Kinh bắt đầu nói về một VN “hắc tâm”, “vô ơn”, “ngạo ngược”. Viện trợ của TQ sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn bộ.
Điều kiện đầu tiên TQ đặt ra cho VN để nối lại viện trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của Liên Xô.
Khi VN ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, TQ thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, VN cũng đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó VN giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước VN thống nhất đã trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của TQ.
Những điều này làm cho TQ lo ngại về một “tiểu bá quyền” VN và việc bị Liên Xô bao vây từ phía Bắc. Một nước Campuchia chống Việt Nam đã trở thành một đồng minh quan trọng đối với TQ.
Quan hệ VN-Campuchia ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từ tháng 5 năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu và bắt đi hàng trăm dân thường, lên cao trào vào những năm 1977-1978 khi Khmer Đỏ nhiều lần đánh sâu vào lãnh thổ VN tàn sát hàng chục nghìn dân thường. Trong suốt thời gian đó và cả về sau, TQ luôn là nước viện trợ đắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí khí tài cũng như cố vấn quân sự. Bên cạnh các nỗ lực ngoại giao không thành nhằm xoa dịu căng thẳng với TQ và Campuchia, VN tin rằng TQ đang sử dụng Campuchia để tấn công VN.
Từ năm 1973, Liên Hiệp Quốc bắt đầu thảo luận về vấn đề chủ quyền của các quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế trên biển.
Chính phủ VNDCCH quyết định tuyên bố chủ quyền với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa theo hiệp ước Pháp-Thanh ký kết năm 1887.
Về phía TQ, với cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970 nước này đã tìm kiếm các nguồn khai thác dầu mỏ trên biển Đông sát với VN, một hành động mà theo VN là chiến lược bao vây đất nước họ.
Tranh chấp giữa hai nước về hai quần đảo này đã bắt đầu ngay từ năm 1975 sau khi VN tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo này.
Nam Quan, hay Hữu Nghị Quan năm 2007, cửa ải nằm tại biên giới VN-TQ
Một lý do nữa khiến căng thẳng VN-TQ leo thang đó là vấn đề Hoa kiều tại VN . Trước năm 1975, có khoảng 1,5 triệu người gốc Hoa sinh sống trên lãnh thổ VN, 15% sống ở phía Bắc vĩ tuyến 17 và 85% còn lại sinh sống ở miền Nam VN. Người Hoa đặc biệt có ảnh hưởng ở miền Nam VN, nơi họ hoạt động mạnh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại.
Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra chính sách buộc người Hoa phải nhập quốc tịch VN hoặc họ sẽ bị trục xuất khỏi lãnh thổ, ngược lại, Hà Nội và Bắc Kinh đồng ý trên nguyên tắc về việc cho phép Hoa kiều tự chọn lựa quốc tịch của mình. Chính sách của VN từ năm 1976 đã bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi nhanh chóng của mối quan hệ giữa VN-TQ, với nỗi e ngại rằng TQ có thể sử dụng Hoa kiều để ép VN theo các chính sách của mình. Vấn đề Hoa kiều được chính phủ VN xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn thuần.
Chính sách một quốc tịch bắt đầu, Hoa kiều nếu không nhập quốc tịch VN sẽ bị cho thôi việc, các báo và cơ sở giáo dục tiếng Hoa cũng bị đóng cửa.
Từ năm 1977 đã có 70.000 Hoa kiều từ VN quay về TQ.
Cho đến thời điểm xảy ra cuộc chiến đã có chừng 160.000 Hoa kiều hồi hương từ VN bằng đường biển hoặc đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị.
Tuyên bố chủ quyền của nước VN thống nhất năm 1975 đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ; cách ứng xử của VN đối với người Việt gốc Hoa; và cố gắng của VN trong việc xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa ba nước Đông Dương được Bắc Kinh xem là nỗ lực nhằm thống trị Đông Dương và là ví dụ về sự hỗn xược của VN.
Từ tháng 8 năm 1975, TQ bắt đầu giảm mạnh viện trợ kinh tế cho VN, cắt hoàn toàn vào tháng 6 năm 1978.
Cũng năm 1975, TQ cho Campuchia vay không lấy lãi 1 tỷ USD và ký kết một hiệp ước quân sự bí mật với chính quyền Khmer Đỏ vào tháng 2 năm 1976. Chính sách ngoại giao của TQ với khu vực Đông Nam Á cũng được thay đổi theo hướng tăng cường quan hệ với khối ASEAN vốn ở thế đối đầu với các chính quyền cộng sản Đông Dương đồng thời cắt bỏ viện trợ của nước này đối với các đảng cộng sản ở Đông Nam Á.
Cuối năm 1978, căng thẳng giữa VN với cả Campuchia cũng như TQ đều lên một đỉnh mới.
Ngày 23-12-1978, Quân đội VN tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ.
TQ có được lý do để tuyên bố về cuộc chiến chống VN sắp tiến hành.
Việc TQ lựa chọn thời điểm tấn công VN cũng hết sức thuận lợi cho TQ. Đặng Tiểu Bình vừa kết thúc chuyến công du sang Mỹ, cùng với việc ông ta lớn tiếng đe dọa “dạy cho Việt Nam một bài học”, TQ tỏ ra họ có được hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, hoặt ít nhất là Mỹ cũng im lặng tán thành.
Ngoài ra việc TQ cắt nguồn viện trợ dầu cho VN vào cuối năm 1978, vốn chiếm tới hơn một nửa tiêu thụ dầu của VN, trong khi Liên Xô chưa kịp viện trợ bổ xung, cũng khiến dự trữ dầu chiến lược của VN bị thiếu hụt trong thời điểm quyết định khi quân TQ tấn công. Thêm vào đó, việc Trưởng Ngân khố Mỹ Blumenthal của chính quyền Carter viếng thăm TQ vào 24 tháng 2 cũng có tác dụng như một lời khuyến khích ngầm TQ, và có tác dụng phụ đảm bảo với TQ tình hình tại vùng duyên hải Phúc Kiến đối diện với Đài Loan sẽ yên tĩnh trong thời gian đầu năm 1979, khiến TQ có thể yên tâm tái bố trí các lực lượng tại Phúc Kiến về hướng biên giới phía nam với VN.
Với lý do cần kinh phí để hỗ trợ Hoa kiều hồi hương, tháng 5 năm 1978, lần đầu tiên TQ tuyên bố cắt một phần viện trợ không hoàn lại đã ký cho VN và rút bớt chuyên gia về nước.
Tháng 7, Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại VN về nước.
Tháng 11 năm 1978 VN ký “hiệp ước hữu nghị và hợp tác” với Liên Xô. Ngày 22-12-1978, TQ ngừng tuyến xe lửa liên vận tới Việt Nam.
Đầu tháng 1 năm 1979, đường bay Bắc Kinh-Hà Nội cũng bị cắt.
Trong khi đó, Đặng Tiểu Bình nổi lên trở thành người lãnh đạo quyền lực nhất TQ. Đặng nhìn thấy cả rắc rối lẫn cơ hội trong mối quan hệ khó khăn với VN và cho rằng cách tốt nhất để nắm lấy những cơ hội này là một hành động quân sự. Trong chuyến thăm Đông Nam Á tháng 12 năm 1978, tại một cuộc trả lời phỏng vấn được TQ truyền hình trực tiếp, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học” mà ngày hôm sau báo chí chính thức của TQ cắt ngắn thành “phải dạy cho VN bài học”.

III- XUNG ĐỘT KHU VỰC
Cùng lúc căng thẳng VN-TQ lên cao thì ở biên giới phía Tây Nam của VN, chính quyền Khmer Đỏ, với sự bảo trợ của TQ, cũng bắt đầu leo thang hoạt động quân sự xâm lấn miền Nam VN. Các xung đột lẻ tẻ ở khu vực này đã nhanh chóng bùng nổ thành Chiến tranh biên giới VN-Campuchia với hệ quả là VN đưa quân vào Campuchia lật đổ chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ. Đứng trước tình hình đó, TQ quyết định tấn công VN với lý do “dạy cho Việt Nam một bài học” (lời Đặng Tiểu Bình) nhưng mục đích chính là phân chia lực lượng quân đội của VN để giúp chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ.
Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu quân sự Tây phương, về mặt chiến lược, TQ thử nghiệm một cuộc chiến tranh biên giới có giới hạn để thăm dò khả năng tương trợ của Liên Xô, sau khi VN gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV), và ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô (1978), trong đó có điều khoản về tương trợ quân sự. Nếu thỏa ước này được tuân thủ nghiêm ngặt, theo nhận định của Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản TQ , nó sẽ là hiểm họa quốc phòng lớn vì đặt TQ vào tình thế lưỡng đầu thọ địch khi xảy ra chiến tranh với VN hoặc Liên Xô.
Về phía Liên Xô, nguy cơ bị cô lập về ngoại giao sau khi quan hệ TQ-Hoa Kỳ trở nên nồng ấm khiến Moskva buộc phải tìm cách tăng cường quan hệ đối với VN. Viện trợ kinh tế của Liên Xô cho VN tăng đều từ năm 1975 đến 1979 từ 450 triệu USD lên 1,1 tỷ USD, viện trợ quân sự cũng tăng mạnh do sự kiện xung đột Việt Nam Campuchia (từ 125 triệu USD năm 1977 lên 600 triệu năm 1978 và 890 triệu năm 1979).

IV- MỤC ĐÍCH & MỤC TIÊU CŨA TQ
Tuyên bố chiến tranh của Bắc Kinh nói rằng đây là cuộc chiến để quân TQ “phản công” chống lại các khiêu khích của VN.
Phát ngôn viên của Tân Hoa xã nói: “Các lực lượng biên phòng TQ đã hành động khi tình hình trở nên không thể chấp nhận được và không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi không muốn một tấc đất nào của VN, cái chúng tôi muốn là một đường biên giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả các thế lực hiếu chiến đủ mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ quay lại bảo vệ chặt chẽ biên giới của tổ quốc.”
Nhiều nhà sử học phương Tây cho rằng cuộc chiến có những mục đích không rõ ràng, trong đó dễ thấy nhất là mục đích trừng phạt VN vì đã lật đổ chế độ Khmer Đỏ tại Campuchia, một đồng minh của TQ và là một trong những chế độ tàn bạo nhất của thế kỹ 20. Về sau, một số nhà sử học suy đoán rằng cuộc chiến có vẻ là một phần trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Đặng Tiểu Bình khi nó thể hiện rõ các khiếm khuyết của Quân giải phóng nhân dân TQ. Những người khác cho rằng Đặng Tiểu Bình gây ra chiến tranh để giữ cho quân đội bận rộn trong khi ông củng cố quyền lực và loại bỏ các đối thủ cánh tả từ thời Mao Trạch Đông.
Theo Carl Thayer, trong mắt TQ, Hà Nội đã vô ơn với Bắc Kinh: Sau khi được giúp đỡ trong cuộc chiến chống Mỹ thì quay sang bạc đãi cộng đồng người Hoa, quan hệ nồng ấm với Liên Xô mà khi đó TQ coi là kẻ thù, rồi lại tấn công quân sự lật đổ đồng minh Khmer Đỏ của Bắc Kinh.
TQ muốn “dạy cho Việt Nam một bài học” vì đã thách thức uy quyền và ảnh hưởng của TQ tại vùng Đông Dương.
Bên cạnh việc xâm lấn VN để “bình định vùng biên giới” sau nhiều năm căng thẳng với các xung đột ngày càng nhiều, TQ phải hành động để chứng tỏ uy tín của mình trong việc bảo vệ đồng minh Khmer Đỏ.
Đối với VN, cuộc chiến là một phần trong kế hoạch bành trướng về phía Nam của TQ. Theo phân tích của phía VN, mục tiêu chính của TQ trong hành động quân sự lần này gồm:
– Nhanh chóng chiếm đóng vùng biên giới Việt-Trung, đặc biệt là các thị xã trọng yếu gồm Lạng Sơn (chốt chặn nối Quốc lộ 1A của VN với TQ), Cao Bằng và Lào Cai. Vùng chiếm đóng dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được TQ sử dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào sâu nội địa VN.
– Tiêu hao lực lượng chủ lực và làm suy yếu khả năng phòng ngự phía VN bằng việc quét sạch các đồn biên phòng, tiêu diệt một phần lực lượng quân địa phương và các đơn vị quân độc lập khác của VN.
– Hủy diệt cơ sở hạ tầng và nền kinh tế ở các vùng chiếm đóng để đưa nền kinh tế Việt Nam tới chỗ sụp đổ.

V- TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG THAM CHIẾN
1- LỰC LƯỢNG CSTQ:
Dân binh Trung Quốc trong các đội tải thương (ước tính có khoảng 4.000 lính TQ tử trận chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc chiến).
Để tấn công VN, TQ sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên 300.000 binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau.
– Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào đông bắc VN với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng.
– Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai).
Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của TQ kể từ Chiến tranh Triều Tiên.
Ngoài lực lượng quân chính qui, TQ còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính qui phục vụ cho chiến dịch, chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huy động.
Về phân phối lực lượng của TQ: hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43, 54, 55; hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có quân đoàn 13, 14; hướng Lai Châu có quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn.

2- LỰC LƯỢNG CSVN:
Do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với TQ chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ. Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía VN đóng ở biên giới Việt-Trung là Sư đoàn 3 (đóng tại Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu. Lực lượng biên giới có khoảng 70.000 quân, sau được 2 sư đoàn (327 và 337) từ tuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện. Lực lượng độc lập gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741.
Quân đoàn 1 vẫn đóng quanh Hà Nội đề phòng TQ đổi ý tiến sâu vào trung châu. Ngày 27 tháng 2, Quân đoàn 2 là chủ lực của Bộ quốc phòng được lệnh cơ động về để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5 tháng 3 bắt đầu triển khai trên hướng Lạng Sơn nhưng rốt cục không tham gia.

VI- DIỂN BIẾN
1- CHUẨN BỊ:
Từ tháng 10-1978 cho đến 15-2-1979, TQ thực hiện hàng loạt các vụ tấn công thăm dò vào các vị trí phòng thủ của VN tại biên giới, với mục đích thu thập thông tin tình báo, đe dọa quân VN, và đánh lạc hướng khỏi mục tiêu chính của chiến dịch sắp tới. Các cuộc tấn công nhỏ này tăng dần về quy mô và tần số khi lực lượng TQ tập trung tại biên giới ngày càng đông.
Không có tài liệu gì về các cuộc tấn công thăm dò của quân VN.
Dấu hiệu đầu tiên của chiến tranh là việc TQ cắt đứt tuyến đường sắt Hữu Nghị nối liền hai nước vào ngày 22-12-1978.
Đến cuối tháng 1 năm 1979, khoảng 17 sư đoàn chính quy TQ (khoảng 225.000 quân), đã tập trung gần biên giới với VN. Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom (1/5 lực lượng không quân TQ) đã được đưa đến các sân bay gần biên giới.
Các động thái leo thang này của TQ đã được phía VN đề cập tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 11-2-1979.
Ngày 7 tháng 2, Bắc Kinh báo trước về một chiến dịch tấn công VN với thông cáo chính thức của chính phủ TQ phản đối việc quân đội VN tiến vào lãnh thổ Campuchia và đề nghị tất cả các quốc gia yêu hòa bình “dùng mọi biện pháp có thể để chấm dứt cuộc xâm lược dã man này”.
Về mặt ngoại giao, sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 1978, trong chuyến thăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1, Đặng Tiểu Bình nhận được sự ủng hộ cần thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ trong kế hoạch tấn công VN, tuy nhiên tổng thống Jimmy Carter cũng cảnh báo Đặng rằng vụ tấn công của TQ, nếu xảy ra sẽ không thể nhận được sự ủng hộ về mặt ngoại giao hoặc quân sự quốc tế.
Ngày 15-2-1979, nhân dịp 29 năm hiệp ước Trung-Xô về vấn đề Mông Cổ và thời điểm kết thúc chính thức Hiệp ước hợp tác Trung-Xô, Đặng Tiểu Bình tuyên bố TQ chuẩn bị tấn công giới hạn VN. Để cảnh báo Liên Xô và cũng nhằm ngăn chặn bị tấn công từ hai mặt, TQ đặt toàn bộ quân đội đóng dọc biên giới Trung-Xô vào tình trạng báo động đồng thời thiết lập một sở chỉ huy quân đội mới ở Tân Cương và di tản 300.000 dân khỏi vùng biên giới với Liên Xô.

2- TIẾN CÔNG GIAI ĐOẠN 1:
5 giờ sáng ngày 17-2-1979, lực lượng TQ khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào VN trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Cánh phía Đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn. Có hai hướng tiến song song:
– Hướng thứ nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn đạp đánh Lạng Sơn.
– Hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê.
Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái.
Cánh phía Tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông Tự, có 3 hướng tiến công chính:
– Hướng thứ nhất do các quân đoàn 13A và 11A dẫn đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai.
– Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang.
– Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu.
Tổng cộng quân TQ xâm nhập VN trên 26 điểm, các khu vực dân cư VN chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái.
Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến.
Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ.
Quân TQ vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có “lực lượng thứ năm” gồm những người Việt gốc Hoa cài cắm từ lâu trên đất VN. Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo TQ đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa VN móc nối với “lực lượng thứ năm” này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của VN từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập bộ chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo.
Tiến nhanh lúc khởi đầu, nhưng quân TQ nhanh chóng phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần lạc hậu phải dùng lừa, ngựa và người thồ hàng. Hệ thống phòng thủ của VN dọc theo biên giới rất mạnh, với các hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là TQ phải chịu thương vong lớn. Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biển lửa và biển người của TQ đã có kết quả tốt, họ tiến được vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và chiếm được một số thị trấn.
Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở Tây Bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị, Thông Nông ở Đông Bắc.
Quân TQ cũng đã vượt sông Hồng và đánh mạnh về phía Lào Cai.
Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến sự lan rộng hơn. VN kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao. Quân TQ hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và cuối cùng cũng chiếm được Mường Khương, Trùng Khánh, và Đồng Đăng.
Tại Móng Cái, hai bên giành giật dai dẳng. Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao, có ít nhất 4.000 lính Trung Quốc chết trong hai ngày đầu này.
Sau hai ngày chiến tranh, quân TQ đã chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây Đồng Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt.
Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng, QĐVN. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh TQ. Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của 2 tiểu đoàn 4, 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị TQ bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn.
Lực lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được cho đến ngày 22. Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân TQ chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn.
Ngày 19 tháng 2, Đặng Tiểu Bình trong cuộc gặp với giới ngoại giao Argentina tuyên bố đây là cuộc chiến tranh hạn chế và TQ sẽ rút quân ngay sau khi đạt được mục tiêu giới hạn. Cùng ngày, nhóm cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô tới Hà Nội để gặp các tướng lĩnh chỉ huy của VN, Moskva yêu cầu TQ rút quân. Liên Xô cũng viện trợ gấp vũ khí cho Việt Nam qua cảng Hải Phòng, đồng thời dùng máy bay vận tải chuyển một số sư đoàn chủ lực của VN từ Campuchia về.
Đến 21 tháng 2, TQ tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn công mạnh hơn nữa. Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm. Quân TQ chiếm thêm một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái.
Về phía VN, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư đoàn (gồm 30.000 quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng.
Ngày 23 tháng 2, Đặng Tiểu Bình nhắc lại tuyên bố về “cuộc chiến tranh hạn chế” và nói sẽ rút quân trong vòng 10 ngày hoặc hơn. Đây được xem là thông điệp nhằm ngăn Liên Xô can thiệp quân sự, đáp lại kêu gọi rút quân của Mỹ, xoa dịu các nước đang lo ngại về một cuộc chiến lớn hơn, và gây khó hiểu cho VN.
Trong khi đó, một tuần dương hạm Sverdlov và một khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã rời cảng từ ngày 21 tiến về phía vùng biển VN. Liên Xô cũng đã bắt đầu dùng máy bay giúp Việt Nam chở quân và vũ khí ra Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria chở vũ khí khí tài bay tới Hà Nội. Một phái đoàn quân sự của Liên Xô cùng từ Moskva bay tới HN.
Ngày 26 tháng 2, thêm nhiều quân TQ tập kết quanh khu vực Lạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã này.
Ngày 25 tháng 2, tại Mai Sao, Quân đoàn 14 thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lực lượng bao gồm các sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ quân khu 4 ra) và sau này có thêm sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.
Trong giai đoạn đầu đến ngày 28-2-1979, quân TQ chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn.
Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để.
Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của VN cũng như có chiến thuật lạc hậu so với phía VN nên quân TQ tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng. Quân VN còn phản kích, đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipo (Vân Nam) của TQ, nhưng chỉ có ý nghĩa quấy rối.

3- TIẾN CÔNG GIAI ĐOẠN 2:
Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27 tháng 2. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và Móng Cái vẫn tiếp diễn.
Trận đánh chiếm thị xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6 giờ sáng cùng ngày.
TQ điều tới đây thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình (phía Đông Nam Lạng Sơn), tiếp tục đưa thêm quân mới từ TQ thâm nhập VN để tăng viện. Tại Lạng Sơn, các Sư đoàn 3, 337, của VN đã tổ chức phòng thủ và phản ứng mãnh liệt trước các đợt tấn công lớn của quân TQ.
Từ ngày 2 tháng 3, Sư đoàn 337 trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Sư đoàn 3 chống trả ba sư đoàn bộ binh 160, 161, 129, cùng nhiều tăng, pháo, tiến công trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu huyện Cao Lộc.
Suốt ngày 27, ở hướng Cao Lộc, sư đoàn 129 TQ không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 bị trung đoàn 12 ghìm chân ; ở hướng đường 1A, trung đoàn 2 vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía Bắc vừa chống lại cánh quân vu hồi của sư đoàn 161 từ hướng Tây Bắc thọc sang. Nhưng 14 giờ ngày hôm đó, một tiểu đoàn TQ bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh chiếm điểm cao 800, nơi đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế trận phòng ngự của VN ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị chọc thủng.
Chiếm được điểm cao 800 và Tam Lung, nhưng trong suốt các ngày từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3, quân TQ vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy đã dùng cho hướng tiến công này gần 5 sư đoàn bộ binh. Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn, mà có trận quân phòng thủ VN đánh đến viên đạn cuối cùng, quân TQ bắt đầu bao vây thị xã Lạng Sơn ngày 2 tháng 3 sử dụng thêm sư đoàn 162 dự bị chiến dịch của quân đoàn 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng.
Chiều ngày 4, một cánh quân TQ đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128 TQ cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía tây nam thị xã.
Đến đây, phía VN đã điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14.

VII- RÚT QUÂN
Ngày 5-3-1979, Bắc Kinh tuyên bố đã “hoàn thành mục tiêu chiến tranh”, “chiến thắng” và bắt đầu rút quân. Cũng ngày 5-3-1979, VN ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Ngày 7-3-1979, VN tuyên bố rằng để thể hiện “thiện chí hòa bình”, VN sẽ cho phép TQ rút quân.
Mặc dù TQ tuyên bố rút quân, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi.
Dân thường VN vẫn tiếp tục bị giết, chẳng hạn như vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại thôn Tổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân TQ đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, TQ còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn …
Sư đoàn 337 của VN, lên tham chiến từ ngày 2 tháng 3 tại khu vực cầu Khánh Khê ở Lạng Sơn để chi viện cho các đơn vị đang chặn đánh quân TQ. Sư đoàn này đến nơi quá muộn để thay đổi cục diện trận đánh tại Lạng Sơn, nhưng đã cùng sư đoàn 338 tổ chức phản kích đánh vào quân TQ rút lui qua ngả Chi Mã.
Ngày 18-3-1979, TQ hoàn tất việc rút quân khỏi Việt Nam.
Từ sau năm 1979, quân TQ tiếp tục tấn công lấn chiếm vào VN ở nhiều điểm. Ở địa bàn QK1, địch đánh chiếm bình độ 400 (Lạng Sơn), cao điểm 820, 630. Ở địa bàn QK2, tháng 8-1980, địch đánh cao điểm 1992 (Sín Mần, Hà Tuyên). Tháng 5-1981 đánh cao điểm 1800A-1800B (Lào Chải, Hà Tuyên). Tháng 2-1982 tấn công vào Đồng Văn, Mèo Vạc. Tháng 4-1983 tấn công vào Mường Khương. Đặc biệt từ tháng 4-1984 địch tập trung tấn công lớn vào Vị Xuyên.
Thời điểm này, VN bố trí dọc tuyến biên giới 3 quân đoàn, 11 sư đoàn, 13 trung đoàn và 70 tiểu đoàn độc lập. Các lực lượng bảo đảm, phục vụ … tuyến sau tương đương 4-6 sư đoàn. Tổng quân số khoảng 300.000 người.
Ngoài ra, sâu trong nội địa còn có 3 quân đoàn chủ lực Bộ làm dự bị.
Mặt trận biên giới Vị Xuyên diễn ra từ tháng 4-1984 đến tháng 4-1989, chia thành 4 thời kỳ :
– Từ 2-4-1984 đến 16-5-1984 : địch tiến công lớn, ta phòng ngự.
– Từ 16-5-1984 đến 7-1-1987 : ta củng cố phòng ngự, tổ chức tiến công một số điểm bị chiếm đóng, địch tiếp tục tấn công lấn chiếm.
– Từ tháng 2-1987 đến tháng 12-1988 : ta và địch đều ngừng tiến công lớn, chủ yếu củng cố phòng ngự và bắn pháo.
– Từ tháng 12-1988 đến tháng 4-1989 : địch ngừng bắn phá và bắt đầu rút dần một số điểm.
Trong 5 năm từ 1984-1989, địch đã dùng 20 lượt sư đoàn, 171 lượt trung đoàn đến đại đội tấn công lấn chiếm vào đất ta 1-2 km.
Phía ta cũng 7 lần thay phiên các sư đoàn chủ lực lên chiến đấu.
Về phía QK1 có trung đoàn bộ binh 981, 982, 983. QK2 có sư đoàn bộ binh 313, 314, 316, 356; lữ đoàn công binh 543, lữ đoàn pháo binh 168, lữ đoàn cao xạ 297, trung đoàn xe tăng 406. trung đoàn thông tin 604, trung đoàn vận tải 652, các tiểu đoàn đặc công, trinh sát, các đơn vị địa phương của BCHQS tỉnh Hà Tuyên và trung đoàn bộ binh 754 của BCHQS tỉnh Sơn La.
Đặc khu Quảng Ninh có trung đoàn bộ binh 568 (sư đoàn bộ binh 328).
QĐ1 có sư đoàn bộ binh 312, QĐ2 có sư đoàn bộ binh 325, QĐ3 có sư đoàn bộ binh 31, lữ đoàn pháo binh 368 thuộc BTL Pháo binh …
Ngoài ra còn nhiều đơn vị lên với hình thức quân tăng cường, lên vẫn lấy phiên hiệu đơn vị phòng ngự cũ.
Bố trí lực lượng phòng ngự có 2 khu vực :
Khu vực Tây sông Lô :
– Từ đầu năm 84 đến 12-85 : F313 và 356 + 1 E của QK1.
– Tháng 12-85 : F31 thay F313.
– Tháng 6-86 : F313 thay F31.
– Tháng 2-87 : F356 thay F313.
– Tháng 8-87 : F312 thay F356.
– Tháng 1-88 : F325 thay F312.
– Tháng 9-88 : F316 thay F325.
– Tháng 5-89 : F313 thay F316.
Ở hướng này khoảng 6 tháng ta thay quân một lần. Riêng F313 có đợt chiến đấu kéo dài liên tục gần 1 năm, gặp rất nhiều khó khăn.
Khu vực Đông sông Lô :
– Từ đầu năm 84 : E266 (F313).
– Tháng 7-84 : E141 (F312) thay E266 (F313).
– Tháng 4-85 : E568 (F328) thay E141 (F312).
– Tháng 11-85 : E818 (F314) thay E568 (F328).
– Tháng 2-87 : E881 (F314) thay E818 (E314).
– Tháng 9-87 : E818 (F314) + 1D tăng cường của E754 thay E881 (F314).
– Tháng 6-88 : E728 (F314) thay E818 (F314).
– Tháng 10-88 : E247 (BCHQS tỉnh Hà Tuyên) thay E728 (F314).
Hướng phòng ngự Đông sông Lô gặp nhiều khó khăn hơn phía Tây, nhiều đơn vị phải chiến đấu những đợt kéo dài 7-10 tháng.

LỜI PHI LỘ: Việc TỔNG HỢP CÁC BÀI VIẾT về cuộc chiến này cũng phải đầu tư so sánh các tài liệu khác nhau từ nhiều nguồn, luôn cả tài liệu của Tàu, nên có thể nhận định sai, vì tôi không trực tiếp chiến đấu như ở trận Hoàng Sa 1974, nhưng vì muốn kể lại sự kiện mà chưa chắc ai cũng thấu đáo nên xin làm đại, xin ACE trong nhà bổ khuyết dùm & bỏ qua cho. Việc này cũng ngốn rất nhiều thời gian, vì sợ viết không đúng như thực tế, nhưng với trình độ của anh phu đạp xích lô, yếu về trình độ để phân tích, kiểm chứng … viêt được như vậy thì đã là quá hớp rồi phải không các bạn? Cũng có nhiều SỰ KIỆN vì lý do “bí mật quân sự và công tác an ninh của Quốc gia” mà không có trong google, để có thêm tài liệu cụ thể chính xác hơn.
Vì thế! Bài viết có nhiều sự kiện chưa đúng hoặc chưa đầy đủ trong cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979 .

(Còn tiếp)

Comments

comments

Share