12923373_847552825356797_4603469665077729005_n

Ải Chi Lăng và Quỷ Môn Quan

I- LỊCH SỬ
Xã Chi Lăng có Ải Chi Lăng và Quỷ Môn Quan. Ải Chi Lăng là một ải thuộc xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn trên Quốc lộ 1A từ Hà Nội đi Lạng Sơn theo hướng Đông Bắc từ Trung châu Bắc Bộ. Từ thời sơ sử, cổ sử VN, con người đã để lại ở Chi Lăng vết tích của nền văn hóa Bắc Sơn-Mai Pha, với những hang động đẹp và những mảnh rìu đá, mảnh gốm.
Những năm trước và sau công nguyên, lịch sử đã chọn lựa Ải Chi Lăng như một địa danh đặc biệt gắn với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đấu tranh chống các triều đại phong kiến Trung Hoa xâm lược của dân tộc Việt Nam. Ải Chi Lăng đã gắn liền với những hoạt động của các nhà quân sự tài năng như: Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi và những thủ lĩnh của xứ Lạng như: Phò mã Thân Cảnh Phúc, Thế Lộc, Hoàng Ðại Huề.
Chi Lăng vẫn còn đó, Mã Yên vẫn còn đây và dấu tích tượng đá hình người quỳ gối cụt đầu có tên gọi là “Liễu Thăng thạch”… hình tượng của tên viên tướng nhà Minh bị Lê Sát, tướng quân của Lê Lợi, chém chết tại ải Chi Lăng tròn 589 năm trước (năm 1427):
“Bản nguyệt thập bát nhật Liễu Thăng vị ngã quân sở công, kế trụy ư Chi Lăng chi dã … Bản nguyệt nhị thập nhật Liễu Thăng hựu vị ngã quân sở bại, thân tử ư Mã Yên chi sơn …”
(Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế.
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu).

II- HIỂM HỌA VỚI NGOẠI XÂM
Ải Chi Lăng cấu thành từ một thung lũng hẹp ép giữa hai dãy núi, phía Đông là dãy núi đất Bảo Đài-Thái Họa và phía Tây là núi đá Kai Kinh (Cai Kinh) dựng đứng. Con sông Thương ngoằn ngoèo chảy dọc theo thung lũng, bên con đường quốc lộ số 1A mà trước kia là đường cái quan lên biên giới, xuôi về kinh đô. Con đường sắt xuyên Việt với ga trung tâm là “ga Trăm Năm” (cách Hà Nội 105 km), được xây dựng từ thời Pháp thuộc tạo thuận lợi cho thông thương lên vùng Đông Bắc Việt Nam và ít nhiều làm giảm tính chất hiểm địa của cửa ải.
Những ngọn núi thấp rải rác dọc thung lũng và trấn ven đường cái quan như: núi Hàm Quỷ, núi Phượng Hoàng, núi Kỳ Lân, núi Mã Yên. Đóng khóa hai đầu của thung lũng, nơi hai vòng cung núi đất phía Đông và núi đá phía Tây khép lại, là lũy Ải Quỷ phía Bắc và núi Ngõ Thề phía Nam, khoanh kín trong lòng một ải quan dài 5 km, rộng khoảng 3 km.
Tại Ải Chi Lăng còn có Thành Chi Lăng ở vào cây số 109 tính từ Hà Nội và tới cây số thứ 154 thì tới tỉnh lỵ Lạng Sơn (theo “Đi thăm đất nước” của Hoàng Đạo Thúy).
Theo “Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ”, Thành cổ tại Ải Chi Lăng do quân Minh đắp trong thời gian xâm lược Việt nam có chu vi 154 trượng và cao 5 thước, nay chỉ còn nền cũ. Ở gần cửa Nam của thành còn phiến đá khắc 5 chữ “Hoàng tráng nhị thập đội” (nơi trú đóng của đội quân Hoàng tráng thứ 20).
Phía nam Ải Chi Lăng có hai khối đá lớn, một khối có hình dáng giống như thanh kiếm khổng lồ gọi là Lê Tổ Kiếm (thanh kiếm của vua Lê Thái Tổ) và một tượng đá có hình dáng như một người quỳ gối và bị cụt đầu gọi là Liễu Thăng Thạch (tức đá Liễu Thăng, ám chỉ tướng Liễu Thăng bị Lê Sát chém cụt đầu tại ải).
Trong suốt lịch sử xâm lăng của kẻ thù phương Bắc, từ nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh đến nhà Thanh, Lạng Sơn luôn được coi là vị trí chiến lược chủ yếu và là hướng tấn công chính, lý do là vì ở đó là đồng bằng và chiếm được Lạng Sơn là chiếm được cửa ngõ châu thổ sông Hồng và chỉ còn 150 km dọc đường cái quan (nay là quốc lộ 1A) là có thể tiến chiếm kinh đô Đại Việt. Tuy nhiên, với giặc ngoại xâm, Ải Chi Lăng trên con đường bách lý xuôi từ biên giới với Ải Nam Quan, qua Lạng Sơn về Thăng Long – Hà Nội, lại là một tử địa vì quy mô hoành tráng, đồ sộ, địa thế hiểm yếu thập nhân khứ, nhất nhân hoàn (10 kẻ đi chỉ 1 kẻ quay về được) của nó.
Suốt quá trình dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam, với chiến lũy hình thang tại Ải Chi Lăng cùng hệ thống đầm lầy, sông suối, núi non hiểm trở của nó, luôn là bức tường thành từ xa của kinh đô Thăng Long ngăn bước viễn chinh quân xâm lược phương Bắc.

III- BẢO TÀNG LỊCH SỬ NGOÀI TRỜI LỚN NHẤT
Năm 1980, sau khi tham dự hội thảo kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, sử gia người Pháp, tiến sĩ Charler Faudier đã đến Chi Lăng tham quan và ngạc nhiên thốt lên:
“Đây là một bảo tàng lịch sử ngoài trời lớn nhất thế giới!”.
Trải rộng trên địa bàn hai xã Chi Lăng và Quang Lang, khu di tích lịch sử Chi Lăng dài đến 20 km với 52 điểm di tích. Và có lẽ không một cửa ải nào trong lịch sử nước Việt lại hào sảng chiến công như Chi Lăng.
Cái thế của một đất nước luôn bị kẻ thù “Tàu khựa” rình rập đã bù đắp cho giang san một miền đất hiểm yếu.
Đứng trước nhà trưng bày chiến thắng Chi Lăng, phóng tầm mắt ra một dãy núi như tường thành dựng đứng mới thấy được thế trận mà thiên nhiên đã ban tặng cho đất nước Việt. Kẹp giữa hai dãy núi sừng sững chỉ còn một cửa ải hẹp và dài, con đường duy nhất kẻ thù có thể tiến về kinh đô Đại Việt xưa. Đi qua ải này, chỉ cần phục binh đánh chặn thì kẻ thù không thể nào xoay xở. Bởi thế Chi Lăng luôn là tử địa của quân xâm lược Tàu phương Bắc.

IV- TƯỢNG ĐÀI CHIẾN THẮNG DỰNG TẠI ẢI NAM QUAN
Khu di tích lịch sử Chi Lăng nằm trong vùng ải Chi Lăng, bao gồm 52 điểm kéo dài gần 20km, phần lớn thuộc hai xã Chi Lăng và Quang Lang và chủ yếu liên quan đến trận đánh ngày 10-10-1427 giết chết Liễu Thăng, chủ tướng quân xâm lược nhà Minh. Khu di tích lịch sử Chi Lăng được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia từ năm 1962.
Bia chiến thắng và Bảo tàng Chi Lăng được xây dựng tại khu di tích này vào năm 1982, nhân kỷ niệm 555 năm chiến thắng Chi Lăng 1427. Tượng đài kỷ niệm chiến thắng Chi Lăng cũng được xây dựng vào những năm sau đó.

12924502_847561858689227_7446030099790398639_n

V- MƠ MỘT “CHI LĂNG PHÙ ĐIÊU”
Với địa thế của mình, được mệnh danh là “bảo tàng lịch sử ngoài trời lớn nhất”, lại có vị trí thuận tiện khi cách Hà Nội chỉ 105 km và cách Lạng Sơn 50 km, Chi Lăng sẽ thu hút du khách nhiều hơn nếu biết liên kết được tất cả 52 điểm di tích này làm thành một tour khép kín, kết hợp tham quan các di tích lịch sử lẫn tìm hiểu văn hóa của đồng bào các dân tộc trong vùng.
Hiện nay, ở nhà “trưng bày chiến thắng”, có rất nhiều khách đến tham quan, nhưng tham quan nhà trưng bày thì … chỉ có 30 phút là đã hết chổ xem, sau đó không biết đi thêm những đâu, trong khi toàn khu vực di tích có đến 52 điểm tham quan.
Một doanh nhân làm du lịch từng tâm sự: “Nếu chọn một nơi để minh chứng sự quật cường của người Việt chống lại kẻ thù xâm lược phương Bắc suốt mấy ngàn năm, thì có lẽ không đâu hơn đất Chi Lăng. Bởi thế, Chi Lăng cần được quảng bá nhiều hơn, có nhiều cách thu hút du khách hơn, một ngày hội Chi Lăng hằng năm sẽ góp phần giáo dục truyền thống yêu Nước cho thế hệ trẻ”.
Và phần của du khách, khi đi dọc dài theo con đường qua ải Chi Lăng nhiều người cũng đã từng mơ, sao không thể có một bức phù điêu như một trường thành, tái hiện chiến thắng của Cha Ông ngày trước qua các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê … Một bức phù điêu dài vài trăm mét trên ải Chi Lăng, dọc con đường xuôi Lạng Sơn – Hà Nội khiến mỗi người dân khi nhìn thấy sẽ tự hào hơn về lịch sử nước mình, nuôi dưỡng trong lòng tinh thần quật cường bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Những hình ảnh trên phù điêu ấy sẽ luôn là một bài học quý giá, nhắc nhở chúng ta rằng:
“Cha Ông ta đã bảo vệ giang sơn đất Việt như thế nào …”.
Lịch sử nước Việt đã nhiều lần đối mặt với quân xâm lược phương Bắc, và dù thế giặc có mạnh đến đâu, thì ải Chi Lăng cũng là mồ chôn quân giặc, là nơi quân thù nếm mùi thảm bại:
– Không chỉ thời nhà Minh với tướng giặc Liễu Thăng bị chém bay đầu, mà từ thuở nhà Tống cho quân sang xâm lăng Đại Cồ Việt, tướng quân Lê Hoàn đã từng giết chết tướng giặc là Hầu Nhân Bảo.
– Thời nhà Lý, phòng tuyến Chi Lăng của phò mã Thân Cảnh Phúc cũng đả đánh tan tác đạo binh nhà Tống trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai.
– Thời nhà Trần, tướng nhà Nguyên là Nghê Nhuận qua ải Chi Lăng cũng bị phục binh bẫy hố, cả người lẫn ngựa bỏ mạng trên ải này …

12418062_847561595355920_6552309578774712472_n

VI- ẢI CHI LĂNG TRONG THI VĂN
Từ thế kỷ 14, tể tướng nhà Trần là Phạm Sư Mạnh, dừng chân trước ải Chi Lăng trên bước đường tuần thú xứ Lạng đã cảm thán trong bài Chi Lăng động khi Lâu phong bạt mã cao hồi thủ (trước gió ghì cương ngựa, lên cao ngoảnh đầu nhìn) với câu thơ:
Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề (Chi Lăng ải hiểm tựa lên trời).

VII- QUỶ MÔN QUAN
Theo Phương Đình dư địa chí, xã Chi Lăng có quan lộ hẹp. Từ Chi Lăng nhìn lên dãy trường thành thế trận núi đá hiểm trở, sông sâu nước độc, có thể thấy một ngọn núi hình mặt quỷ, lối đó gọi là Quỷ Môn quan. Đèo Sài Hồ (Cách Quỷ Môn Quan không xa), nơi mỗi đêm ngọn gió thổi qua Quỷ Môn Quan nghe âm u ghê rợn bay tới. Từ đầu dốc làng Tổng Cút, xã Bắc Thủy, huyện Chi Lăng lên đỉnh dốc núi Kéo Đòn, xã Tân Thành
Ai đã lên Lạng Sơn vào mùa gió đông đều biết đến tiếng hú của gió khi thổi qua chuỗi hang động của ngọn núi hình mặt quỷ, nó như tiếng gọi từ âm ti, khắc khoải và ghê rợn.
Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn dẫn lời chép trong Hoàn Vũ Ký của Trung Quốc cho biết: “Quỉ Môn quan nằm ở phía Nam huyện Bắc Lưu (Bắc Lưu thuộc châu Uất Lâm tỉnh Quảng TâyTrung Quốc), cách huyện lỵ Bắc Lưu khoảng 30 dặm về phía nam. Tại cửa quan này có hai khối núi đối nhau và ở giữa có độ rộng 30 bước, tục gọi Quỷ Môn Quan. Thời Mã Viện nhà Hán đánh man Lâm Ấp, đi qua Việt Tộc dựng bia và tạc rùa đá”.
Sách ấy lại nói rằng: “Đời nhà Tấn (265-420) sang đánh Giao Chỉ, đều do Quỉ Môn quan, ở đây rất nhiều lam chướng, mười người đi, chín người không trở về” (Đại Nam Nhất Thống Chí – Quốc Sử Quán Triều Nguyễn).
Binh lính qua đó bị chết nhiều đến nỗi đã phải để lại câu thơ hãi hùng còn lưu đến bây giờ:
“Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan!
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn”
Dịch nghĩa là:
“Ải cửa Quỷ, Ải cửa Quỷ! Mười người đi, chỉ một người trở về “.

10399873_847561332022613_5293327531573464751_n

Ô Nhục Quan

VII- SỨ TÀU GHÉT QUỶ MÔN QUAN
Cửa quan Quỉ Môn: ở phía nam châu Ôn, thuộc địa phận xã Chi Lăng, con đường qua ải nhỏ hẹp, đá núi hiểm cao, phía tây gần khe sâu, nước độc không thể ăn uống, rừng rú rậm rạp, địa hiểm ác, có đá như đầu ma quỉ, nên đặt tên như vậy. Ngạn ngữ nói: “Quỉ Môn quan, thập nhân khứ, nhất nhân hoàn” , nghĩa là tại Quỉ Môn quan, mười người (Trung quốc) ra đi (vào nước Nam), chỉ có một người trở về (Trung quốc).
Thời Lê Trung Hưng sứ Trung Hoa sang Việt Nam sắc phong, ghét tên Quỷ Môn Quan nên đổi gọi bằng tên Úy Thiên Quan (có lẽ muốn nói cửa quan sợ thiên triều?)
Xin có mấy câu thơ tặng quí vị sứ giả “nước nhớn” Trung Quốc:
“Quỉ Môn quan, Quỉ Môn quan …
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn”
Sứ Tàu qua đó nghe mà “rét”
Mới đổi gọi là “Úy Thiên quan”
Theo Việt Hoa thông sứ sử lược của Bế Lãng Ngoạn và Lê Văn Hòe, sứ bộ Việt Nam trên bước đường thiên lý sang Trung Hoa đều dừng tại Quỷ Môn Quan trước khi tiến đến ải Nam Quan. Như vậy, Quỷ Môn Quan chính là một phần không thể tách rời của ải Chi Lăng.
Tuy là miền hiểm địa khi chiến tranh, nhưng Chi Lăng cũng là đất cho người những sản vật ngọt thơm. Quả na ở Chi Lăng nay đã là một thương hiệu nổi tiếng, được trồng nhiều trên những sườn núi, một nguồn thu đáng kể cho người dân vùng đất này. Khách dừng lại tham quan khu di tích và nhà trưng bày chiến thắng Chi Lăng có thể được mời ăn những quả na ngọt ngào, dày cùi, hạt nhỏ, thơm ngát.

VIII- LỜI BÀN CỦA KẺ HẬU NHÂN
Thật ra Quỉ Môn quan chỉ là tên gọi một ải quan của nước Nam, có liên quan gì đến Trung Quốc đâu mà phải lo đổi tên? Nếu những ông vua “con trời” biết tôn trọng đường biên giới trên bộ và dưới biển để dân chúng hai nước Trung-Việt được sống bình yên thì đâu có chuyện “đi mười, về một”?
Bởi vì địa thế nước Nam hiểm trở như thế, khí hậu nước Nam nóng bức, ẩm ướt độc hại như thế, người nước Nam mưu trí, đảm lược như thế thì … đoàn
quân “thiên triều” qua nước Nam xâm lược, trở về được 10% là may mắn lắm rồi còn gì!

Không tin, tụi bây thử đọc sơ sơ lại lịch sử “Việt Tộc” xem nhé!
– Năm 938 vua Nam Hán sai con là thái tử Hoằng Tháo đem quân sang xâm lăng nước Nam. Ngô Quyền “truyền lệnh cho quân sĩ phải hết sức phòng bị, một mặt thì sai người lấy gỗ cặp sắt nhọn, cắm ngầm ở dưới lòng sông Bạch Đằng, xong rồi chờ đến lúc nước thủy triều lên, cho quân ra khiêu chiến ; quân Nam Hán đuổi theo, đến lúc nước xuống, Ngô Quyền hồi quân đánh ập lại, quân Nam Hán thua chạy, bao nhiêu thuyền mắc vào cọc gỗ thủng nát mất cả, người chết quá nửa (còn người bị thương và bị bắt chưa kể?). Hoằng Tháo bị Ngô Quyền bắt được, đem giết đi. Hán chủ được tin ấy, khóc òa lên, rồi đem quân về Phiên Ngung, không dám sang quấy nhiễu nữa” (Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim).

– Năm 981, sau khi vua Đinh Tiên Hoàng của Đại Cồ Việt bị ám sát, vua nhà Tống là Tống Thái Tông sai bọn “Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng”… tấn công Đại Cồ Việt qua đường Lạng Sơn, bọn Lưu Trừng đem thủy quân sang mặt Bạch Đằng giang. “Bấy giờ lục quân của bọn Hầu Nhân Bảo tiến sang tới Chi Lăng (đương nhiên là phải qua cửa quan Quỉ Môn đấy nhỉ?), vua Đại Hành Lê Hoàn sai người sang trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo đến chỗ hiểm ấy bắt chém đi, rồi đuổi đánh quân nhà Tống chém quá nửa, và bắt được hai người bộ tướng … chưa kể quân Tống bị thương và bị bắt là bao nhiêu?” (Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim).

– Năm 1077, Tống Thần Tông sai Quách Quỳ tấn công Đại Việt, quân bộ đã đi theo đường Nam Quan, xuống ải Quyết Lý rồi ải Chi Lăng. Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt thân hành về Chi Lăng gặp phò mã Thân Cảnh Phúc bàn bạc việc binh. Với chiến tuyến Quyết Lý và Giáp Khẩu (dựng tại Chi Lăng), Thân Cảnh Phúc và quân dân xứ Lạng đã góp sức đánh tan quân xâm lược Tống lần thứ II.

– Năm 1284-1287, vua nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt (Kubilai) đã sai Thoát Hoan tấn công Đại Việt bằng đường bộ qua Lạng Sơn, ắt phải qua ải Nam Quan. Năm 1285, quân Nguyên qua ải Chi Lăng đã bị quân nhà Trần chặn đánh kịch liệt. Chính Hưng Ðạo Ðại vương Trần Quốc Tuấn đã thể hiện thiên tài quân sự của ông ở đây bằng “hố bẫy ngựa”, phục binh của ta từ dưới hố dùng mã tấu phạt đứt chân ngựa, tách bọn Nguyên Mông thiện chiến ra khỏi ngựa mà tiêu diệt, và tướng tài lừng danh nhà Nguyên là Nghê Nhuận bị giết chết tại chỗ. Và cũng trong năm 1285 tại mặt trận Tây Kết, Hưng Đạo Vương chia quân ra đánh úp trại quân Nguyên, và đặt phục binh để bắt Toa Đô: “Quân ta đánh hăng quá, quân Nguyên địch không nổi, Toa Đô và Ô Mã Nhi đem binh lên bộ chạy ra mặt biển, nhưng khi chạy đến mé sau một dãy núi thì bị quân Nam vây đánh. Toa Đô trúng tên chết, còn Ô Mã Nhi thì tìm đường chạy vào Thanh Hóa, nhưng bị quân ta đánh đuổi ngặt quá, phải một mình lẻn xuống chiếc thuyền con chạy ra bể, trốn về Tàu …”. Quân Nam bắt được hơn 3 vạn tù binh và chiến thuyền khí giới không biết bao nhiêu mà kể, không thấy nói đến số quân Nguyên bị giết, nhưng có lẽ cũng nhiều lắm? (Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim).

– Năm 1288, tại mặt trận Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương dùng lại chiến thuật Ngô Quyền năm xưa để chiến thắng quân Nguyên: “Nguyễn Khoái nhử quân Nguyên đi khỏi xa chỗ đóng cọc, rồi mới quay thuyền đánh vật lại. Hai bên đánh đang hăng, thì đại quân của Hưng Đạo Vương tiếp đến. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp thấy quan quân to thế lắm, mới quay thuyền chạy trở lại. Khi chạy đến khúc sông có cọc đóng thì nước thủy triều đã rút xuống, thuyền của quân Nguyên vướng mắc phải cọc, đổ nghiêng đổ ngửa, đắm vỡ rất nhiều. quan quân Việt thừa thắng đánh cực hăng, quân Nguyên chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông. Ta bắt được hơn 400 chiến thuyền và rất nhiều tù binh … Tướng Nguyên là: Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc đều bị bắt cả” (Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim).

– Năm 1426, Bình Định Vương Lê Lợi cho quân phục kích tại mặt trận Tụy Động: “Bấy giờ phải độ trời mưa, đường lầy, quân Minh vừa đến Tụy Động thì bị quân ta bốn mặt đổ ra đánh, chém được quan Thượng thư là Trần Hiệp, Nội quan là Lý Lượng. Còn những quân sĩ nhà Minh thì chết hại nhiều lắm, phần thì giày xéo lên nhau mà chết, phần thì ngã xuống sông chết đuối, cả thảy đến hơn 5 vạn người, còn bị bắt sống hơn một vạn người, các đồ đạc khí giới thì lấy được không biết bao nhiêu mà kể” (Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim).

– Cuối năm 1427, ải Chi Lăng trở thành nơi ghi công một trong những trận đánh nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam. Đạo quân chủ lực của nhà Minh do An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy gồm gần 10 vạn người kéo sang để dẹp khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Lê Lợi đã phái Lê Sát dẫn các tướng lên đón đường, đặt quân mai phục. Tướng Trần Lựu giả cách thua vài trận để dụ Liễu Thăng lọt vào ổ phục kích tại núi Mã Yên. Quân Lam Sơn đổ ra chém chết Liễu Thăng khiến đạo quân cứu viện hùng hậu bị hoang mang, suy sụp, mất sức chiến đấu và tới đầu tháng 11 năm 1427 thì bị vây đánh, tiêu diệt bắt sống toàn bộ ở Xương Giang.

– Năm 1774, Ðốc trấn Lạng-Sơn là Nguyễn Trọng Ðang cho tu bổ Ngưỡng Đức Đài, nằm về phía nam của Trấn Nam Quan.

– Năm 1788, theo lời cầu viện của thân mẫu của Lê Duy Kỳ, vua nhà Thanh là Càn Long (1736-1795) cử Tôn Sĩ Nghị cầm đại quân sang Đại Việt, đi bằng ba ngả: Tôn Sĩ Nghị cùng Hứa Thế Hanh vào cửa Nam Quan, qua Lạng Sơn đi xuống, Sầm Nghi Đống đi qua đường Cao Bằng, và đề đốc Vân Nam Ô Đại Kinh vào đường Tuyên Quang.

– Vào đầu năm Kỷ Dậu (1789). Đoàn quân viễn chinh nhà Thanh bị vua nhà Tây Sơn là Quang Trung đánh tan tác trong trận hành quân thần tốc, hạ thành Hà Hồi, Ngọc Hồi, thây giặc Thanh chết chất thành Gò Đống: “Tôn Sĩ Nghị (tướng Thanh, Tổng Đốc Lưỡng Quảng) nửa đêm nghe tin báo, hoảng hốt không kịp thắng yên ngựa và mặc áo giáp, đem mấy tên lính kỵ chạy qua sông sang Bắc. Quân các trại nghe tin như thế, xôn xao tan rã chạy trốn, tranh nhau sang cầu, một lát cầu đổ, sa cả xuống sông chết đuối, sông Nhị Hà đầy những thây người chết …” ; “… Ngày hôm ấy vua Quang Trung đốc quân đánh giặc, áo ngự bào bị thuốc súng bắn vào đen như mực. Đến trưa thì vào thành Thăng Long, sai tướng đem binh đuổi đánh quân nhà Thanh đến cửa Nam Quan. Những dân Tàu ở gần Lạng Sơn sợ khiếp, đàn ông, đàn bà dắt díu nhau mà chạy, từ cửa ải về mé bắc hơn mấy trăm dặm, tịnh không nghe thấy tiếng một người nào?”. Thế mà tên Ngụy Vua cỏng rắn cắn gà nhà Gia Long lại gọi Quang Trung là Ngụy thật là ngậm máu phun người làm dơ miệng mình (Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim).

– Năm 1885, Trận Trấn Nam Quan và Lạng Sơn.

– 26-6-1887, Công Ước Về Hoạch Ðịnh Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc ký giữa Pháp và Nhà Thanh.

– Ngày 21-04-1891 tiến hành cắm cột mốc tại vùng biên giới gần ải Nam quan.

– Năm 1907, Tôn Trung Sơn và Hoàng Hưng phát động cuộc khởi nghĩa Trấn Nam Quan chống Thanh, nhưng thất bại.

– Năm 1957, Chính phủ tỉnh Quảng Tây đã chi tiền trùng tu lại thành lầu Hữu Nghị quan, trở thành một kiến trúc ba tầng như hiện nay.

– Từ ngày 17-2-1979, trong Chiến tranh biên giới Việt-Trung. Bọn Tàu Cộng đả tung trên 660.000 quân tấn công Việt Nam ở 6 tỉnh biên giới: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, và đã chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn. Bộ binh Tàu cộng vào thị xã Lào Cai bằng thung lũng sông Hồng, vào thị xã Cao Bằng theo thung lũng sông Bằng (Bằng Giang), và vào thị xã Lạng Sơn theo thung lũng sông Kỳ Cùng, vào ải Nam Quan. Có một vài thông tin chưa được kiểm chứng cho rằng sau khi rút quân ngày 5-3-1979, quân Tàu cộng vẫn chiếm giữ vùng đất phía nam ải Nam Quan, do đó trạm Hải quan (quan thuế) của Việt Nam phải dời xuống phía nam ải nầy, nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam (theo ông Trương Nhân Tuấn, cột mốc đã bị dời khoảng 300 đến 400 m về phía Nam).

– Ngày 30-12-1999, tại Hà nội, hai ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm của Việt Nam và Đường Gia Triền của Trung cộng chính thức ký “Hiệp ước biên giới trên đất liền”, theo đó Ải Nam Quan thuộc về Trung cộng. Bản hiệp ước này được quốc hội Trung cộng thông qua ngày 29-4-2000, và quốc hội CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 9-6-2000, và việc cắm mốc biên giới bắt đầu từ năm 2001 đến cuối năm 2008 là xong.

Và … còn rất nhiều thí dụ về cái cảnh “thập nhân khứ, nhất nhân hồi” của những tên xâm lược phương Bắc trong lịch sử “An Nam”…
Ngày nay “nước nhớn đàn anh” có thừa phương tiện tối tân, qua nước “đàn em” dễ ợt, đâu còn sợ gì Quỉ Môn quan?
Nhưng hãy coi chừng dân tộc nước Nam nhé!
Họ không dễ gì để người nước ngoài đô hộ thêm lần nữa đâu!
Hơn 1000 năm Bắc thuộc đủ lắm rồi!

(Sưu tầm & tổng hợp từ nhiều nguồn – Ảnh Internet)


Đào tạo nghiệp vụ Hướng dẫn Viên Du lịch

Đào tạo Văn thư Lưu trữ

Đào tạo chứng chỉ Nghiệp vụ sư phạm

Lớp Giảng viên an toàn lao động

Kho tài liệu hướng dẫn viên du lịch.

Lớp học nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch.

Comments

comments

Share